Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

PHỤC HỒI Ý NGHĨA CHỮ VẠN Một Việc Làm Vô Cùng Ý Nghĩa

Một nhà sư Nhật Bản phục hồi ý nghĩa của chữ Vạn
(Un bonze japonais souhaite réhabiliter la signification originale de la swastika)

Hoang Phong chuyển ngữ
            Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji. Chẳng qua là vì những người quốc-xã (nazi) đã biến chữ này thành một biểu tượng cấm kỵ trong các nước Tây phươngngày nay. Thế nhưng chữ Vạn đã ăn sâu vào nền văn hóa của Nhật Bản từ khi Phật giáo mới được đưa vào xứ sở này, và nhà sư Nakagaki muốn nhấn mạnh với người Tây Phương là chữ Vạn với tư cách là một biểu tượnghoà bình cũng đã được sử dụng trong rất nhiều tôn giáo!
image001
H.1: Chữ Vạn trên ngực một pho tượng Phật

            Khi nhà sư Kenjitsu Nakagaki rời Osaka và định cư tại thành phố Seattle trên đất Mỹ năm 1985 thì khi đó ông cũng chỉ hiểu ý nghĩa của chữ Vạn qua từ manji trong tiếng Nhật - gốc tiếng Hán mang ý nghĩa là "sự giàu có". Một hôm trong khi cử hành một nghi lễ Phật giáo, ông có nói đến biểu tượng chữ Vạn, thì tức khắc có một người trong chùa cảnh giác rằng ông "không được làm như thế trong xứ sở này". Từ đó nhà sư Nakagaki đã hiểu được là chữ Vạn lại còn có thêm một ý nghĩakhác nữa, đó là sự hận thù.  

            Gần đây hơn, ông tuyên bố thẳng với giới truyền thông qua tờ Japan Times của thành phố New York như sau: "Sau khi học được bài học trên đây, tôi không dám nói đến biểu tượng này nữa - và đến nay thì cũng đã 25 năm rồi". "Thế nhưng tầm nhìn đó quả là hẹp hòi và thiển cận, không thể nào chấp nhận được, nhất là đối với những người trong số chúng ta từng lớn lên với chữ Vạn qua tín ngưỡng của mình và nền văn hóa của quê hương mình". Thật vậy biểu tượng này rất phổ biến tại Phương Đông, nơi mà Phật giáo Ấn Độ đã được truyền bá, và hơn nữa chữ Vạn cũng là một thuật ngữ tiếng Phạn, mang ý nghĩa là "được mọi điều tốt đẹp" (tiền ngữ su có nghĩa là "tốt đẹp", hậu ngữ asti có nghĩa là "được"/être, to be)

            Hiện nay nhà sư Nakagaki đang cố gắng kêu gọi quần chúng hãy quan tâm nhiều hơn đến từ này trong nền văn hóa Ấn Độ với ý nghĩa nguyên thủy của nó là Hòa Hình. Quyển sách mới đây nhất của ông với tựa đề : "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) là một đóng góp của ông nhằm phục hồi một biểu tượng đã bị cấm kỵ sau một thời gian dài. Trong quyển sách này nhà sư Nakagaki giải thích thật chi tiết nguồn gốc Á Đông của chữ Vạn và nêu lên các trường hợp mà biểu tượng này đã được sử dụng trong nhiều tín ngưỡngnhư Ấn giáo, Phật giáo, đạo Ja-in, Do Thái giáo, Ki-tô giáo và cả Hồi giáo, và cũng đã từ lâu đời, trước khi biểu tượng này bị những người Quốc-xã tước đoạt (biểu tượng "chữ thập có bốn cánh gập lại" mà  sau này người ta gọi là "swastika", là một trong số các biểu tượng xưa nhất của nhân loại. Người ta tìm thấy loại chữ thập này từ Thời đại đồ đá mới/Neolithic, tức là vào thời kỳ khi con người mới bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt. Vì thế cũng có thể xem chữ Vạn là một biểu tượng "toàn cầu". Sở dĩ biểu tượng này đã xuất hiện rất sớm và phổ biếnrộng rãi trong nền văn minh nhân loại có thể là do tính cách đơn giản và dễ ghi khắc của nó. Di tích lâu đời nhất của biểu tượng này được tìm thấy tại xứ Ukraine , xưa khoảng 10.000 năm - ghi chú của người chuyển ngữtiếng Việt).

            Chữ Vạn được biểu trưng bằng nhiều cách: một số có thêm bốn dấu chấm, một số khác dưới dạng một cơn lốc xoáy tròn, hoặc các biến thể khác. Đối với Phật giáo chữ Vạn nằm thẳng, bốn cánh quay về phía trái, trong khi Chữ-thập-ngoặc của Đức-quốc-xã thì nằm nghiêng 45° và bốn cánh thì quay về phía phải. Biểu tượng chữ Vạn rất phổ biến tại Nhật, và thường được dùng để chỉ định vị trí chùa chiền trên các bản đồ địa lý từ triều đại Meiji (1868-1912).
            Trong những năm gần đây đã từng có nhiều cuộc tranh luận về chữ Vạn, nhất là từ khi công ty Google "vô tình" đã dùng dấu hiệu chữ Vạn này chỉ định vị trí các chùa chiền Phật giáo trên những bản đồ do công ty phác họa! Thế nhưng chính công ty Google sau đó cũng đã phải tuyên bố với tổ hợp báo chí HuffPost rằng biểu tượng này dù đúng là "của tín ngưỡng Phật giáo", thế nhưng công ty cũng sẽ tìm cách … giải quyết khó khăn này! Năm 2015, một sinh viên Do Thái bị đuổi khỏi đại học George Washington sau khi cài lên bảng thông cáo của trường biểu tượng chữ Vạn mà anh ta đã mua tại Ấn Độ. Năm 2017, công ty may mặc Âu-châu DA Designs cho in biểu tượng chữ Vạn trên các chiếc áo thun (tee shirt) với chủ đích "quảng bá" ý nghĩa hoà bình và tình thương yêu của biểu tượng này. Thế nhưng sáng kiến này đã bị Quốc hội Do Thái và Bảo tàng viện tưởng niệm nhà giam Auschwitz (lò thiêu người của Đức-quốc-xã)chỉ trích nặng nề.

            Quyển sách của nhà sư Nakagaki trên đây cho thấy một sự cố gắng liên tục của ông trong việc làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ Vạn, sau khi ông đệ trình luận án về vấn đề này tại Chủng viện Thần học New York năm 2012. Luận án này sau đó đã được xuất bản tại Nhật năm 2013. Thế nhưng các nhà xuất bản Mỹ thì lại quá dè dặt không dám in. Nhà sư Nakagaki bèn tự mình xuất bản qua công ty Amazon năm 2017. Mãi đến mùa thuvừa qua nhà xuất bản Stone Bridge Press mới xuất bản quyển sách này tại Mỹ. 

image002
Hình bìa quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" của nhà sưKenjitsu Nakagaki.
image004
Nhà sư Kenjitsu Nakagaki đang giới thiệu quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) với vị giáo sĩ (rabbi)Do-thái giáo Alan Brill, chủ tịch ủy ban nghiên cứuDo-thái giáo và Ky-tô giáo tại đại học Seton Hall tại thành phố New Jersey, tháng 11 năm 2018.

Nguồn: Lion'Roar, bài viết của Haleigh Atwơd  (09.01.2019)
Có thể xem tin này trên trang mạng: Buddhistdoor, bài viết  của Raymond Lam (19.12.2018)
Có thể xem bản gốc tiếng Pháp trên trang mạng của Viện nghiên cứu Phật học của Pháp (Institut d'Études Bouddhiques/IEB) (16.01.2019) :
https://bouddhismes.net/index.php?option=com_content&view=article&id=182:un-bonze-japonais-souhaite-rehabiliter-la-signification-originale-de-la-swastika&catid=12&Itemid=128-
Hình ảnh:  Davidlohr Bueso ; japantimes.co.jp

                                                                                                 Bures-Sur-Yvette, 14.02 19
                                                                                                  Hoang Phong chuyển ngữ
 PHỤC 

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

VÌ SAO CHÂN NGÔN “Minh Chú” BẮT ĐẦU BẰNG CHỦNG TỰ “OM”?

Trong Đại thừa, chúng ta thường niệm bắt đầu bằng chữ "Nam mô" để thể hiện Tâm chí thành. Tâm chí thành được thể hiện qua cả thân, khẩu và ý. Thân đỉnh lễ là thể hiện sự chí thành của thân, miệng trì tụng “Nam mô…” là thể hiện sự chí thành của khẩu, tâm chúng ta tha thiết hướng về Đức Phật là sự chí thành của ý, như thế chữ “Nam mô” là thể hiện tâm chí thành của cả thân, khẩu và ý. Trong truyền thống Kim Cương thừa, câu chân ngôn thường bắt đầu bằng chủng tử "OM". Chữ OM là tượng trưng cho năng lượng của vũ trụ vô cùng mạnh mẽ và to lớn.
Từ xa xưa, khi vũ trụ còn sơ khai về sự sống, con người đã cảm nhận được sức mạnh, hơi thở và nhịp sống của thiên nhiên qua những năng lượng và âm thanh chuyển động được tạo ra từ bão tố, sóng gió hay thậm chí tiếng rừng già xào xạc, những chuỗi âm thanh dội từ vách núi rền vang, rung động. Tất cả những âm thanh mang năng lượng tự nhiên của vũ trụ đều có một âm nền và gốc tương tự nhau.
Theo cách gọi của người thế tục là năng lượng của vũ trụ bao gồm năng lượng âm và dương, còn trong Kim Cương thừa là năng lượng của phụ tính và mẫu tính, hay là năng lượng vi tế mạnh mẽ hài hòa của từ bi và trí tuệ. Vì thế khi câu chân ngôn chúng ta bắt đầu bằng chữ chủng tử OM để thu gom năng lượng tinh tế mạnh mẽ của vũ trụ, hay là thu gom năng lượng hài hòa của từ bi và trí tuệ để trợ giúp cho sự thực hành của mình dễ dàng phát triển trí tuệ, từ bi, mới hy vọng đạt được kết quả tốt đẹp.
Sử dụng năng lượng vũ trụ để lợi ích chúng sinh với Trí tuệ và lòng Từ bi
Khi bạn sử dụng năng lượng vũ trụ để cứu độ chúng sinh với Trí tuệ và Từ bi thì công năng sẽ rất mạnh mẽ, bởi vì năng lượng của vũ trụ có sức mạnh rất lớn. Chữ chủng tử OM tượng trưng cho năng lượng của vũ trụ, hoặc tượng trưng cho toàn bộ vũ trụ. Khi chúng ta nói về vũ trụ tức là nói về sức mạnh thực sự của vũ trụ, trong hình thức năng lượng phụ tính và mẫu tính giúp phát triển sự hiểu biết về các thiện hạnh của từ bi và trí tuệ. Ví dụ hoạt động thiện hạnh yêu thương chúng ta cần có năng lượng thuộc phụ tính, cùng lúc chúng ta cần sự phát triển của trí tuệ, nếu không có trí tuệ tất cả mọi thiện hạnh sẽ không thành công. Muốn phát triển trí tuệ chúng ta cần sự trợ giúp của năng lượng mẫu tính, thuộc năng lượng vũ trụ. Hai năng lượng này rất cần để phát triển sự thực hành yoga, Yoga Mantra, Yoga Sutra,…. Vấn đề quan trọng là làm thế nào đưa hai loại năng lượng này vào sự thực hành phát triển từ bi trí tuệ của chúng ta. 
Đây là một trong những lý do chúng ta thực hành sự trân trọng lẫn nhau. Chúng ta tôn trọng tất cả mọi năng lượng, tất cả mọi thứ. Ví dụ chúng ta tôn trọng động vật, tôn trọng con người, tôn trọng cây cối, cho đến cả những côn trùng bé nhất chúng ta cũng đều tôn trọng bình đẳng như nhau. Chúng ta không nên nói rằng: “Loài người có quyền ngược đãi, đối xử tàn tệ với các loài khác hoặc có quyền giết hại mạng sống các loài” Điều này hoàn toàn sai! Chúng ta cũng không nên nói rằng: “Nam giới rất tuyệt, chúng ta cần tôn trọng phái nam, không cần tôn trọng phái nữ”. Điều này càng sai! Đức Phật Thích Ca đã từng dạy rằng: người nữ có quyền chứng ngộ bình đẳng với người nam không khác. Cho nên Ngài không chỉ cho người nam xuất gia thọ giới Tỳ kheo để chứng quả A la hán, mà Ngài còn cho phép người nữ xuất gia làm Tỳ kheo ni và cũng có thể chứng A la hán như các vị Tỳ kheo không khác. Không chỉ thế trong Kim Cương thừa còn có các hành giả Yogi, Yogini, hay các vị Bản tôn như Daka, Dakini và chư Phật trong hình tướng nam và cả trong hình tướng nữ. Vì vậy tất cả mọi người, mọi loài bao gồm cả cây cối, côn trùng,…đều cần được tôn trọng như nhau. Đó chính là giáo lý của Đức Phật, là thông điệp về Từ bi và Trí tuệ của Ngài.
 VIF SA