Thứ Sáu, ngày 27 tháng 5 năm 2016

Chùa Ngọc Hoàng - Phước Hải Tự (Đa Kao)

TIN ĐẶC BIỆT:  Tổng Thống Mỹ Đến Việt Nam Không Đến Chúa Mà Đi Lễ Chùa.  Lành Thay!


image1.PNG

image2.PNG

image3.PNG


image4.PNG


image5.PNG



image6.PNG



image7.PNG

image8.PNG



image9.PNG



image10.PNG


image11.PNG



image12.PNG


image13.PNG



image14.JPG


Chùa Ngọc Hoàng

Chùa Ngọc Hoàng ( sau 1975 có tên là Phước Hải Tự) đuợc xây dng vào khoảng đầu thế kỳ 20. Nếu từ chợ Đa Kao nằm trên đuờng Nguyễn Huy Tự  đi về phía Xa Lộ Sàigòn - Biên Hoà khoảng hai mươi thước. Quẹo phải là đường Nguyễn Văn  Giai, đi thêm vài chục thước sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Còn như quẹo trái thì gặp đường Bùi hữu Nghĩacầu sắt Đa Kao đi đến được chợ Bà Chiểu (Nơi có Chùa Linh Quang, T.T. Thích Nhuận Đạt trụ trì chùa vào thập niên 90 và trùng tu trước khi vượt biên sang Hoa Kỳ1993).
Vừa qua hai con đường này sẽ gặp đường Phạm Đăng Hưng (nay được đổi là Mai Thị Lưụ). Chùa Ngọc Hoàng số 73, nằm bên phải con đuờng này. Nhìn sang bên kia đường, ngày xưa có Viện Nhu Đạo Quang Trung do Thượng Toạ Thích tâm Giác thành lập.
Trong sân chùa có nhiều cây cổ thụ lớn tuổi cả trăm năm, có một hồ lớn nuôi rất nhiều rùa và thờ nhiều thần linh có giá trị nghệ thuật và lịch sử.
Trong lịch trình đến thăm và làm việc tại Sàigòn vào ngày 24 tháng 05, năm 2016. Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và đoàn tùy tùng dự kiến sẽ viếng thăm chùa Ngọc Hoàng. Cầu mong không có gì thay đổi vào phút chót.
Xin gửi vài tấm hình Chùa Ngọc Hoàng do tôi chụp trong một lần về Sài Gòn

Trần Đình Phước
(San José – California)

Tháng 5 lên Tây Bắc ngắm ruộng bậc thang VIETNAM

Mỗi độ tháng 5 về khi những cánh đồng lúa bắt đầu vào độ chín, những cánh đồng ruộng bậc thang Tây Bắc lại thu hút khách du lịch miền xuôi lên chiêm ngưỡng.
Ruộng bậc thang là loại hình canh tác phổ biến ở rất nhiều quốc gia tiêu biểu là Đông Nam Á như: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia.
Tại Việt Nam hệ thống ruộng bậc thang là phương thức nông nghiệp của rất nhiều dân tộc sinh sống ở miền Băc như: Hà Nhì, Dao, Nùng, Mông, La Chí… mỗi dân tộc có phong tục tập quán, cách canh tác độc đáo khác nhau, những tín ngưỡng nông nghiệp khác nhau.
Đã từ lâu, những thửa ruộng bậc thang không chỉ là nét văn hóa, còn là nét đẹp, là niềm tự hào của Việt Nam.
Hãy cùng chiêm ngưỡng vẻ đệp lộng lẫy của mùa vàng tại Tây Bắc:
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 1
Bức tranh thổ cẩm mùa lúa vàng
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 2
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 3
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 4
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 5
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 6
Không du khách nào có thể cưỡng lại vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 7
Khung cảnh yên bình đẹp đến nao lòng
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 8
Rủ nhau đi ngắm tam giác mạch ở Tây Bắc
Thang 5 len Tay Bac ngam ruong bac thang - Anh 9
Lên Tây Bắc mùa lúa chín là lựa chọn tuyệt vời cho du khách
Nguyễn Phương (tổng hợp)
Source: Internet

Bài kệ chú tắm Phật Đón Mừng Phật Đản Sanh

Bài kệ chú tắm Phật 


Hình ảnh nội tuyến 1


Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai dòng nước ấm mát tắm rửa cho Ngài, cùng lúc ấy, chư thiên tung hoa trời, trổi nhạc trời chúc mừng thái tử. Tắm Phật là nghi thức tưới nước thơm lên tượng Phật sơ sinh, ngoài mục đích kỷ niệm đức Phật đản sinh còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự tẩy trừ phiền não, hướng đến sự thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý của con người. Nghi thức tắm Phật đã có từ xa xưa ở Ấn Độ, các tự viện thường thực hiện nghi lễ tắm Phật như một nhu cầu cần thiết để cầu phước diệt tội. Khi tiến hành lễ tắm Phật, bài kệ tắm Phật được xướng tụng là:

Ngã kim quán mộc chư Như Lai 
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ 
Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu 
Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân.
Tỳ Gia thành lý bất tằng sinh 
Sa La thọ gian bất tằng diệt 
Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm 
Nhãn trung khán kiến trùng thiên tiết. 
Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát 
Tịnh Phạn vương cung sinh Tất Đạt 
Phún thủy cửu long thiên ngoại lai 
Bỗng túc liên hoa tùng địa phát.
Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.

Dịch là:
Con nay rưới tắm các Như Lai
Trí sạch trang nghiêm công đức lớn
Chúng sanh năm trược rời cấu trần
Cùng chứng Như Lai tịnh pháp thân.
Trong thành Tỳ Gia chưa từng sinh
Giữa cây Sa La chưa từng diệt
Bất sinh bất diệt đức Cồ Đàm
Trong mắt nhìn xem càng thêm bớt.
Sáng nay là mồng tám tháng tư
Cung vua Tịnh Phạn sinh Tất Đạt
Chín rồng phun nước ngoài trời đến
Hoa sen đỡ bước theo đất mọc.
Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.

Bốn câu đầu là bài kệ tắm Phật trong kinh Dục Phật Công Đức, theo đó dịch sát là: Nay con rưới tắm thân của các đức Như Lai, thân ấy là khối công đức được trang nghiêm bởi trí tuệ thanh tịnh, cầu nguyện chúng sanh ở trong giai đoạn đầy năm thứ vẩn đục cho họ thoát ly mọi thứ dơ bẩn, cùng chứng pháp thân thanh tịnh của Như Lai.
ke-tam-phat-2
Nói về Như Lai là phải nói đến phước trí nhị nghiêm. Để chứng đắc địa vị Phật đà, chư vị bồ tát phải tích tụ tư lương phước trí trải qua ba A tăng kỳ kiếp bằng sự tu tập trí tuệ vô phân biệt thông đạt pháp tánh viên minh, thuận phần chân như thanh tịnh. Chư vị bồ tát còn cụ bị đại bi, đại nguyện, đại tinh tấn trong việc hóa độ chúng sanh, nhất là chúng sanh bị năm thứ vẩn đục vây quanh. Năm thứ vẩn đục là: thời kỳ vẩn đục, kiến thức vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, đời sống vẩn đục (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược). Bồ tát hóa độ chúng sanh bằng mọi phương tiện thiện xảo mà cứu cánh là mong chúng sanh diệt được tất cả mê hoặc, cùng chứng đắc pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Pháp thân của Như lai thì thường trú bất diệt, biến khắp pháp giới, thanh tịnh bản tịch, ứng hiện không có thêm bớt, tùy thuận niết bàn sinh tử.

Bốn câu kế tiếp là nói pháp thân thanh tịnh của Như Lai thì bất sinh bất diệt. Cách đây hơn 25 thế kỷ, vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, tại nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) miền trung Ấn Độ, bồ tát Hộ Minh đã giáng trần, qua hiện thân thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Ngài đã vì lòng từ bi, vì sự an lạc, hạnh phúc, giải thoát cho chúng sanh, nên xuất hiện ở cõi Ta bà nầy. Về sau Ngài xuất gia, tu hành và thành đạo dưới cội Bồ Đề hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), trở thành giáo chủ trong ba cõi, bậc thầy của chư thiên và loài người. Qua 49 năm thuyết pháp độ sanh, ngài đã để lại cho nhân loại một kho tàng giáo lý vô tận, những quy luật đạo đức cao siêu, để hướng dẫn con người hướng thiện và giải thoát. Trong cánh rừng Sala, phía nam thành phố Câu Thi Na (Kusinagara), vào một đêm rất tối và tĩnh mịch, Đức Phật nằm nghiêng bên phải, hướng về phía tây và dần nhập niết bàn, một trạng huống tánh tịnh vô trú.

Trước hết cần phải hiểu đạo lý sinh diệt. Sinh là biểu hiện, diệt là kết thúc. Sự kết thúc của giai đoạn này là sự biểu hiện của giai đoạn kế tiếp. Như vậy sinh diệt tiếp nối tương tục, sinh là diệt, diệt là sinh, do đó sinh không thật sinh, diệt không thật diệt. Sinh không thật sinh nên gọi là bất sinh, diệt không thật diệt nên gọi là bất diệt. Nghĩa lý bất sinh bất diệt nằm trong sinh diệt. Đức Phật có ba thân là tự tánh thân, thọ dụng thân và biến hóa thân. Tự tánh thân là pháp thân thanh tịnh, tự tại trong các pháp. Thọ dụng thân là thân Phật trong đại tập hội của chư Phật gồm toàn chư vị bồ tát. Biến hóa thân là thân Phật từ cung trời Đâu Suất, thị hiện ẩn mất, rồi thọ sinh, thọ dục, vượt thành xuất gia, đến chỗ ngoại đạo, tu hành khổ hạnh, chứng đại bồ đề, chuyển đại pháp luân, nhập niết bàn vô trú. Ở góc độ đạo lý sinh diệt thì sự giáng sinh và diệt độ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử cũng là bất sinh bất diệt. Qua cái nhìn pháp thân thì mang sắc thái thường trú, bất sinh bất diệt, vì thân ấy từ chân như thanh tịnh dẫn ra, từ bản nguyện dộ sinh không có thời kỳ kết thúc. Dùng con mắt phàm phu mà xem xét pháp thân thì chỉ là vọng kiến điên đảo, thêm bớt sinh diệt: “Nhãn trung khán kiến trùng thiêm tiết.” Đức Phật vẫn hiện hữu nhưng vì chúng sanh không thấy đó thôi. Như Đại thừa trang nghiêm kinh luận có ghi: “Đồ đựng nước bị bể, ánh trăng không hiện ra, như vậy lỗi chúng sanh, tượng Phật cũng chẳng hiện.”

Bốn câu sau cùng là nhắc lại việc đản sinh của đức Phật. Hằng năm, vào ngày mồng 8 tháng tư âm lịch, các chùa tổ chức lễ hội Tắm Phật. Lễ hội ấy dựa theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả rằng khi đức Phật đản sinh có hai con rồng phun nước hương thơm, một dòng ấm một dòng mát, rưới lên kim thân thái tử Tất Đạt Đa. Kinh Phổ Diệu thì nói đến chín con rồng ở trên không trung rưới nước hương thơm xuống tắm rửa thái từ vừa đản sinh. Theo kinh Ưu bà di pháp môn tịnh hạnh, thái tử vừa đản sinh thì đã biết đi, “nhẹ nhàng đi bảy bước trên bảy hoa sen”. Mỗi bước chân thái tử nhìn về một phương, cả thảy sáu phương: đông, tây, nam, bắc, hạ, thượng. Đến bước thứ bảy thì thái tử một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Nói xong, chư thiên dâng hai dòng nước ấm mát tắm cho thái tử, sau đó thái tử trở lại như mọi đứa trẻ bình thường.

Ý nghĩa bảy bước hoa sen, theo kinh Ưu bà di pháp môn tịnh hạnh, như sau: Bước thứ nhất, nhìn về phương đông, ngài nguyện làm người dẫn đường tối thượng. Bước thứ hai, nhìn về phương nam, ngài nguyện làm ruộng phước tốt cho chúng sanh. Bước thứ ba, nhìn về phương tây, ngài nói đây là thân rốt sau. Bước thứ tư, nhìn về phương bắc, ngài nói sẽ chứng đắc Vô thượng bồ đề. Bước thứ năm, nhìn xuống phương hạ, ngài nói sẽ hàng phục ma quân phiền não. Bước thứ sáu, nhìn lên phương thượng, ngài nguyện làm nơi y chỉ cho chư thiên và loài người. Bước cuối cùng, ngài tuyên bố: “Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là trên hết”, bởi lẽ sự kiện một đức Phật xuất hiện ở đời như một bậc tôn quý nhất, tối thắng nhất là vô tiền khoáng hậu. Kinh Tăng Chi Bộ ghi: "Một người, này các tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Người ấy là ai ? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác."

Một tượng Phật Thích Ca sơ sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, được đặt trong một cái chậu nước sạch có rắc hoa thơm. Phật tử sắp thành hàng dọc, vừa tụng kệ chú tắm Phật, vừa tiến đến trước tượng Phật, múc một muỗng nước hương thơm rưới tắm lên tượng Phật. Nghi thức tắm Phật ấy hàm ẩn một ý nghĩa cao siêu, đó là pháp thân Phật vốn thanh tịnh, dụ cho Phật tánh vốn tiềm ẩn trong mỗi người, nhưng vì bị bụi bặm phiền não tham, sân, si … che lấp nên Phật tánh không hiển lộ ra được. Muốn hiển lộ Phật tánh cần mượn nước để tẩy rửa bụi bặm che lấp Phật tánh. Quán chiếu việc tắm Phật như là việc gội rửa nội tâm để tìm lại tự tánh sáng ngời vốn sẵn có của mình. Múc một muỗng nước hương thơm rưới từ trên vai tượng Phật sơ sinh, nếu tâm ta có niệm tham, niệm sân, niệm si … thì xin nguyện cho những tâm niệm xấu ác này theo dòng nước thanh tịnh mà trôi đi, chuyển hóa nội tâm trở nên trong sáng.

Tắm Phật cũng là sự biểu lộ lòng thành kính của mình với đức Phật, nguyện báo ơn Phật vì nghĩ nhớ ơn nặng của Ngài: “Đức Thích Ca Như Lai của chúng ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà thực hành bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ khổ cực. Khi ta tạo tội, Phật đã xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không biết tin tưởng, tiếp nhận. Ta đọa địa ngục, Phật càng đau xót, muốn chịu thay khổ sở cho ta, nhưng nghiệp ta quá nặng, hết cách cứu vớt. Ta sinh loài người, Phật liền dùng phương tiện làm cho ta gieo trồng thiện căn. Đời đời kiếp kiếp, Phật theo dõi ta, lòng không lúc nào rời bỏ chốc lát.” 

Nguồn trên Net
Bảy Hiền

Thứ Hai, ngày 02 tháng 5 năm 2016

THƯ MỜI ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN LẦN THỨ 2640 NĂM 2016 Của Tu Viện Hộ Pháp


MERRY SAKYA MUNI BUDDHA & HAPPY BUDDHA DAY!

HẠNH PHÚC THAY CHƯ PHẬT GIÁNG SINH

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN LẦN THỨ 2640-- 2016

Merry Sakyamuni Buddha and Happy Buddha Day!


Ðại Lễ Phật Ðản Phật Lịch 2560 - Năm 2016 
Ðặc biệt năm nay được long trọng vào ngày thứ Bảy vào lúc:

10:30 sáng ngày 21 tháng 05 năm 2016
 (Nhằm ngày RẰM Tháng Tư ÂL)

Tại khuôn viện Tu Viện, 3048 Lashbrook Ave., El Monte, CA 91733
(Góc Garvey – Phở Filet đi vào 50m) Phone: (626) 453-0109

Namo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo Buddhaya

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HOA KỲ
ĐOÀN TĂNG NI VIỆT NAM TRUYỀN GIÁO TẠI HOA KỲ
TU VIỆN HỘ PHÁP
3048 Lashbrook Avenue, El Monte, CA 91733
Phone & Fax: (626) 453-0109

E-Temple: www.HoPhap.Org – E-mail: TuVienHoPhap@Gmail.com
-----------------------------------------------------------------------------------------------
                                                                          
Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
THƯ MỜI ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN
 
Kính thưa quý Phật-tử và Đồng hương,

Ðại Lễ Phật Ðản Phật Lịch 2560 năm nay được long trọng vào ngày thứ Bảy:

10:30 sáng, ngày 21 tháng 05 năm 2016
Tại khuôn viện Tu Viện, 3048 Lashbrook Ave., El Monte, CA 91733
(Góc Garvey – Phở Filet đi vào 50m)
Phone: (626) 453-0109

Đại Lễ Phật Ðản năm nay với nhiều sinh hoạt mang bản sắc truyền thống văn hoá đặc thù của Phật giáo Việt Nam, chương trình gồm có: Lễ Cúng Dường Kính Mừng Phật Đản, Thính pháp, Lễ Tắm Phật, Lễ Phóng Sanh, Lễ Cúng Dường Trai Tăng & Chay Hội, Vẻ và Viết Thư Pháp, Văn Nghệ Kính Mừng Phật Đản, Lễ Truyền Qui Y Tam Bảo Ngũ giới, Cúng Mông Sơn Thí Thực Cô Hồn, v.v…
Sự hiện diện của quý vị trong ngày đại lễ Phật Đản một khích lệ lớn lao cho Ban Tổ Chức và cùng là một sự kết duyên tu tập trong Phật Pháp làm lợi lạc rất lớn cho tất cả chúng ta và chúng sanh.
Ban Tổ Chức xin trân trọng thông báo đến quý Phật-tử, Đồng hương và Đại chúng liễu tri và kính mời toàn thể quý vị khởi tâm thành kính dành thời gian câu hội về Tu Viện Hộ Pháp tham dự Ðại Lễ Phật Ðản vào ngày giờ nói trên được trang nghiêm đông đủ, cùng góp phần cầu nguyện thế giới hòa bình, chung sanh an lac.

Hạnh Phúc Thay Chư Phật Giáng Sinh!  Happy Buddha Day!

Nam-Mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật,Trân trọng kính mời,
      
Sa môn Thích Tuệ Uy


E-Temple: www.HoPhap.Net

Chương Trình Đại Lễ Phật Đản
Tu Viện Hộ Pháp

3048 Lashbrook Avenue, El Monte, CA  91733
Saturday ngày 21 tháng 5 năm 2016 - Phật Lịch 2560Phone: (626) 453-0109 -- E-Temple: HoPhap.Net

Namo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo BuddhayaNamo Buddhaya
09:30 Đại chúng vân tập
10:15 Đại chúng tụ họp tại Thiền Đường trang nghiêm thành kính dâng lời tác bạch cung nghinh Chư Tôn Thiền Đức quang lâm Lễ Đài cử hành Đại Lễ Cúng Dường Phật Đản.
10:25 Chuông Trống Bát Nhã cung nghinh chư Tôn Đức Quang Lâm
10:30 Lễ Chào Quốc Kỳ:
• Quốc ca Việt Nam
• Quốc ca Hoa Kỳ
• Quốc ca Phật Giáo
• Phút mặc niệm nhập Từ Bi Quán
• Giới thiệu thành phần tham dự
• Tuyên đọc Thông Điệp Phật Đản của Giáo Hội
• Cung thỉnh Chư Tôn Đức chứng minh ban Đạo từ & Thuyết Pháp
11:15 Chư Tôn Đức Dâng hương bạch Phật - Lễ chính thức Cúng Dường Phật Đản
• Tán Dương Chi, tụng Chú Đại Bi
• Lễ  Cúng Dường Phật Đản
• Lễ Siêu Độ chư hương linh Cửu Huyền Thất Tổ, tứ thân Phụ Mẫu
• Tụng Bát Nhã & Hồi hướng.
12:00    Lễ Thả Bong Bóng cầu nguyện hòa bình
             Lễ Phóng Sinh cầu phúc thọ miên trường.
             Lễ Cúng Dường Mộc Dục -- Tắm Đức Phật Sơ Sinh: Đại chúng theo thứ lớp tham dự
           
12:30   Ngọ Trai:
• Cúng dường Trai Tăng: tác bạch cúng dường do Phật tử Tu Viện
• Văn nghệ cúng dường Phật Đản & chư Phật tử thụ lộc & cơm chay
14:30 Lễ Quy Y Tam Bảo
16:30 Đàn Hộ Pháp Thí Thực cúng thí thập nhị loại cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn
17:30  hoàn mãn
Nam Mô Lâm Tỳ Ni Viên, Vô Ưu Thọ Hạ, Thị Hiện Đản Sinh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

*Chương trình có thể tùy duyên thay đổi để buổi lễ được thập phần viên mãn.
E-Temple: www.HoPhap.Net

Website: HoPhap.Net - Tu Viện Hộ Pháp: 3048 Lashbrook Ave., El Monte, CA 91733 – Tel.: (626) 453-0109 hoặc 377-1103
Ðường về Tu Viện Hộ Pháp 3048 Lashbrook Avenue, El Monte, CA 91733 –
To 3048 Lashbrook Avenue From Little Saigon: đi 22 West --> 405 North --> 605 North --> 60 West- Los Angeles, lấy Exit Rosemead 19, quẹo Phải đi về hướng North-Rosemesd, (ngang qua Siêu thị Thuận Phát) đến đường Garvey right turn, quẹo Phải, giữ lane phía trái liền để (turn left at the first flash yellow light) quẹo trái Lashbrook góc tiệm McDonald & Phở Filet khoảng 50m Tu Viện nằm bên phải 3048 Lashbrook ngay góc đường thứ nhất với cửa cổng màu vàng rực sáng.
Đến 3048 Lashbrook Avenue từ Downtown Los Angeles: (8 miles lái xe khoảng 10 phút Freeway) đi 10 East --> lấy Exit Rosemead, quẹo Phải ngay đường rẻ đầu tiên, đi về hướng South, đến đường Garvey quẹo Trái, giữ lane phía trái liền để vào lane giữa, khi đến ngang tiệm McDonald. Quẹo trái ngay đèn vàng chớp nháy là đường LASHBROOK Avenue, Đầu đường là tiệm Phở Filet. Đi vào khoảng 50m Tu Viện nằm bên phải ngay lốc đường thứ nhất với cửa cổng màu vàng rực sáng.
Dùng phương tiện máy bay tư nhân: quý Phật tử đáp máy bay của quý vị tại El Monte Airport, và lái xe hơi về Tu Viện khoảng 8 phút, nếu chuyến bay đáp tại phi trường quốc tế Los Angles (LAX) lái xe về 28 phút Freeway.
Dùng phương tiện xe bus công cộng: quý Phật tử về tổng tạm El Monte, lấy xe số 70 ngang đường Garvey và đến Lashbrook hoặc Rosemead thì xuống đi bộ đến Tu Viện. Nếu dùng xe Đò Hoàng từ Nam-Bắc Cali thì xuống trạm Siêu Thị Thuận Phát, El Monte, và đi bộ đến Tu Viện từ 5-8 phút.
Đường không xa lắm từ Little Saigon và từ Phi Trường Quốc Tế Los Angeles. Bạn hãy nghĩ rằng chúng ta sẽ được bù đắp những giờ phút an lạc và hạnh phúc khi về Tu Viện Hộ Pháp. Chúc bạn lái xe/máy bay trong chánh niệm và thật an toàn.
Happy Buddha Days! - From HoPhap.Net

Thứ Ba, ngày 19 tháng 4 năm 2016

Koh Kra, một đêm trên đảo “địa ngục”…

Koh Kra, một đêm trên đảo “địa ngục”…

 
22.03.2016

Hai chiếc ghe đánh cá và 1 taxi đổ bộ, 36 người hành hương từ 5 quốc gia, 1 tấn lương thực và dụng cụ, 5 giờ hải hành và 1 đêm không ngủ…

Những con số thoạt nghe thật đơn giản nhưng phía sau đó là cả ngàn chuyện không tên và hơn chục vỉ thuốc nhức đầu; từ những việc hành (là) chính đến các vấn đề an ninh, di chuyển, ăn ở và cả chuyện… vệ sinh.

Dù vậy, những người tham dự đã không hé nửa lời phàn nàn về điều kiện sinh hoạt thiếu thốn hoặc đoạn đường cực nhọc gian nan mà ngược lại, mọi người đều cảm thấy thân ái, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Niềm an lạc đó, có lẽ từ nỗi mong chờ được toại nguyện, từ ước vọng được chia sẻ… và cũng có thể từ những duyên lành kỳ lạ suốt cuộc hành trình.

Từ chuyến tiền trạm dò đường năm 2013, Văn khố Thuyền nhân Việt Nam (VKTNVN) đã phải mất đến gần 3 năm mới thực hiện được chuyến viếng thăm và cầu nguyện của đoàn người Việt hải ngoại đầu tiên đến hòn đảo hoang đã thành biểu tượng của tuyệt cùng oan nghiệt và tội ác trong trang bi sử thuyền nhân.
Chiếc ghe đánh cá thứ nhì và chiếc taxi (được kéo) ra đảo. Hình chụp từ "cá lớn".
Koh Kra (phiên âm tiếng Thái là Cỏ Cả, nghĩa là Đảo Rùa – đọc nhanh từ chữ ‘Kara’, người địa phương còn đặt tên là “đảo độc”, chẳng hiểu vì sao) là một cụm 3 hòn đảo Koh Kra Yai, Koh Kra Klang và Koh Kra Lek, nằm cách bờ khoảng 80km từ bến tàu của làng đánh cá Hua Sai thuộc tỉnh Nakhon Si Thammarat ở miền nam Thái Lan. Hòn đảo lớn nhất chỉ rộng 3,5 dặm vuông với khoảng 80% diện tích là đá tảng, cây rừng, không có nguồn nước ngọt và trên đảo có rết. Tùy theo mùa, rùa biển có thể lên bờ đẻ trứng.

Cụm 3 đảo Koh Kra thường là nơi núp bão của các chiếc tàu đánh cá khơi xa và cũng từng là sào huyệt của các nhóm hải tặc trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước. Địa danh khét tiếng này đã được nhiều người biết hơn qua những lời tố cáo đến Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) và quyển Hải tặc trên Vịnh Thái Lan (xuất bản năm 1981 tại Hoa Kỳ) của các nhà văn / nhà báo Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thủy sau khi họ được cứu thoát khỏi Koh Kra năm 1979. Theo lời kể của các nhân chứng, khoảng 160 thuyền nhân VN đã chết vì đói khát, kiệt sức, bị hãm hiếp và thậm chí bị sát hại dã man trên hòn đảo này (tính đến thời điểm đó) – chưa kể đến một số khác bị bắt đi mất tích.

Từ ấy đến nay đã 36 năm. Hôm nay, 36 người trở lại… Con số trùng hợp ngẫu nhiên đến khó tin!
1980 – 2016: 36 năm bước qua oán thù...
Ông Trần Đông, Giám đốc VKTNVN và là Trưởng ban Tổ chức chuyến đi, cho biết ông đã phải quyết định hạn chế con số tham dự - dù có nhiều người muốn ghi danh - vì đây là lần đầu tiên một đoàn người Việt (từ Úc, Mỹ, Pháp, Canada và Việt Nam) du khảo và hành hương đến đây. Không ai trong đoàn, kể cả những ngư dân địa phương dẫn đường, biết rõ tình trạng của đảo ngày nay thế nào.

(Một chi tiết thú vị: Trong chuyến đi có 2 cô giáo từ Việt Nam đang làm việc ở Thái – xin không viết tên vì lý do mà… ai cũng biết. Hai bạn trẻ này hầu như không biết gì về chuyện vượt biên. Do mối liên hệ “đại bác bắn không tới” với một thành viên trong đoàn, họ đã tình nguyện hướng dẫn và thông dịch cho cả nhóm; từ việc trả giá khi đi shopping thư giãn với các bà đến trận cãi nhau với chủ xe gian lận cho các ông. Quả tình, nếu không có sự giúp đỡ tích cực của họ, Ban tổ chức chắc… “căng” lắm vì phải quơ tay suốt ngày!)

5 giờ sáng (thứ Ba, 22.03.2016), từ Hat Yai, mọi người được đưa đến làng chài Hua Sai để bắt đầu chuyến hải hành 5 tiếng đồng hồ “ra khơi biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông, biết đời viễn vông, biết ta hãi hùng”… Hành trang cá nhân gọn nhẹ, gạo nước xăng nhớt đầy đủ, áo phao an toàn cho từng người, lại có cả cảnh sát đi theo bảo vệ… Quá “sang” so với những trận “đánh chui” ngày xưa! Những người từng vượt biên sống lại cảm giác nhộn nhạo hồi hộp và một ít người ra biển lần đầu cũng đãi cho cá buổi ăn sáng “mì gói recycled” sau vài đợt sóng nhồi…

(Một chi tiết thú vị nữa: Thuyền trưởng chỉ huy “Hải đội Koh Kra” không ai khác hơn là viên tài công từng đưa nhóm tiền trạm VKTNVN ra đảo cách đây 3 năm. Khi đi tìm đường cho lần này, ông Trần Đông – chúng tôi gọi thân tình là “Trần Lão gia” – lớ ngớ thế nào mà hỏi thăm đúng phóc vợ của ông ta ngay giữa chợ!)

Chưa kịp nhả cơn say đất, chúng tôi đã có ngay duyên lành khi đặt chân lên Koh Kra: cuộc hạnh ngộ kỳ diệu với 5 vị sư Phật giáo Nam tông. Nhóm tăng sĩ này đã đến đảo từ vài ngày trước để thực hiện lễ an vị kim thân Đức Phật và sẽ lưu lại tu học và cầu nguyện trong một tháng. Ngay cả những người dẫn đường lẫn các nhân viên an ninh của chính quyền địa phương cũng không hề biết trước về sự hiện diện của họ trên đảo.

Hỏi ra mới biết họ được vị sư trụ trì của một ngôi chùa lớn trong đất liền sai phái ra đảo trong mùa Thanh Minh để tĩnh tâm cầu siêu và giải oan cho những vong hồn còn vương vấn chưa rời. Những vị sư này – khoảng độ tuổi trung niên – dường như không biết chuyện gì đã xảy ra trên Koh Kra vì lúc đó, họ chỉ là các chú tiểu hoặc còn được bồng bế trong lòng mẹ, nhưng theo lời sư phụ của họ, âm khí nơi đây rất nặng nề vì các vong linh chưa siêu thoát…

Giữa trưa nắng nóng như đổ lửa và không một làn gió, chúng tôi nghe chuyện mà lạnh toát sống lưng!
Toàn cảnh ba tượng Phật trên mỏm đá nhìn ra biển và cụm ba Koh Kra
Trong lúc các công nhân địa phương giúp việc bếp núc và lều trại, địa điểm chúng tôi tìm đến đầu tiên là tấm bia Tưởng Nhớ người tỵ nạn VN và Ghi Ơn vị ân nhân đã giải cứu cho những người sống sót khỏi hòn đảo địa ngục này. Đây là di tích gần như duy nhất được biết đến còn ghi dấu thời khổ nạn đó. Nhờ tìm hiểu trước, chúng tôi đã tìm gặp ngay nó nằm khuất trong mé rừng phía trái. Nhưng tấm bia có lẽ đã được làm mới (không rõ do ai và từ bao giờ) để thay thế tấm bia nguyên thủy màu đen được dựng lên khoảng hơn mười năm trước bởi một Nghiên cứu sinh Tiến sĩ người Đức, đã tìm đến đảo Kra, dựng lên do xúc động trước những dấu tích của sự thật được lưu lại. Đáng tiếc là chúng tôi không còn tìm thấy nội dung và hình ảnh của tấm bia này trên internet nữa.

Dựa lưng vào một tảng đá lớn, tấm bia hoa cương màu hồng điểm trắng hiện nay khắc những dòng chữ tiếng Anh sơn nhũ vàng như sau:

In honor of the thousands of Vietnamese refugees who were marooned, abused, tortured and even murdered here on Koh Kra island. May their suffering never be forgotten. With heartfelt thanks to Mr. Ted Schweitzer who was instrumental in saving thousands of marooned refugees.

Tạm dịch:

Trong sự tưởng nhớ hàng ngàn người tỵ nạn Việt Nam bị bỏ rơi, xâm hại, tra tấn và thậm chí giết chết trên đảo Koh Kra này. Cầu mong nỗi khổ đau của họ không bao giờ bị lãng quên. Với lời biết ơn chân thành gửi đến Ông Ted Schweitzer, người đã có công cứu mạng hàng ngàn người tỵ nạn bị bỏ rơi.

Ông Theodore G. Schweitzer, công tác viên của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, là người đã cứu giúp xấp xỉ 1,200 Thuyền Nhân Việt Nam lâm nạn hải tặc tại đảo Kra chỉ trong nhiệm kỳ 12 tháng ngắn ngủi của mình. Bản thân ông sau những việc làm này, đã gặp rất nhiều rắc rối với chính quyền Thái Lan lúc ấy.

Hôm sau, sau nghi thức đơn giản nhưng trang trọng, một nhóm trong đoàn đã trồng bốn chậu bông giấy (mang ra từ đất liền), đặt tại đây hai tượng nhỏ của Đức Mẹ Maria (mang từ Việt Nam) và Bồ tát Quán Thế Âm (mang từ Úc) để tỏ lòng thành tâm tưởng niệm của cả đoàn trước khi rời đảo.

Cùng lúc đó, một nhóm khác cũng xoay trần ra khoan đá và gắn Bia Tưởng Niệm (do Văn Khố Thuyền Nhân VN thực hiện) vào vách núi. Những mũi khoan nóng rực thay nhau xoáy từng ly vào tảng đá triệu tuổi như in sâu lời hứa không quên những đồng bào bất hạnh nằm lại hoặc mất tích giữa biển khơi… Việc làm tưởng như dễ dàng và đơn giản này đã ngốn “toán nhân lực chủ lực” hơn 5 tiếng đồng hồ, từ khi vừa lên đảo đến lúc chập choạng tối. Cuối cùng, dưới ánh trăng rằm mới nhú trên đỉnh đảo, tấm bia đã được gắn chặt vào vách núi bằng loại keo xi-măng chuyên dụng cho cần cẩu và giếng dầu ngoài khơi, mà sức người không thể phá hủy bằng các dụng cụ thông thường – ngoại trừ đập hẳn tảng đá lớn.

Đây là tấm bia làm bằng thép đặc biệt, không rỉ sét hoặc bị ăn mòn, có sức chịu đựng thời gian và thời tiết khắc nghiệt đến 30 - 40 năm, được mang đến bởi một thành viên từ Canada. Anh đã tự tay làm lấy tấm bia sau khi biết tin về chuyến đi Koh Kra. Nội dung của tấm bia – qua sự tham khảo ý kiến của nhiều vị lãnh đạo tinh thần và đại diện cộng đồng trên khắp thế giới – được tạc chìm vào bia với dòng chữ màu đen vĩnh viễn không phai:

This Memorial is a THANK YOU dedicated to the Thai People and Government who helped the Vietnamese boat people during their perilous journey and is a MARK of RESPECT to hundreds of thousands who did not survive the exodus (1975-1996)
Overseas Vietnamese Communities
Archive of Vietnamese Boat People
March 2016.

Tạm dịch:

Bia tưởng niệm này là lời CÁM ƠN gửi đến Nhân dân và Chính phủ Thái đã giúp đỡ cho thuyền nhân Việt Nam trong cuộc hành trình gian nguy của họ và cũng là sự BÀY TỎ LÒNG KÍNH NGƯỠNG đến hàng trăm ngàn người đã không sống sót qua cuộc đào thoát lưu vong (1975 - 1996)
Cộng đồng Người Việt Hải ngoại
Văn khố Thuyền nhân Việt Nam
Tháng Ba 2016.

Khoan vách núi để đặt bia Tưởng niệm và Ghi ơn trên Koh Kra
(Thêm một chi tiết thú vị khác: Nhóm gắn bia gồm 4 người, đến từ 4 quốc gia khác nhau: Mỹ, Úc, Canada và Việt Nam – và trong thùng dụng cụ mang theo, không có cái nào… Made in China)

Nhóm gắn bia lựa chọn vị trí này một cách ngẫu nhiên – giữa một vệt hằn mưa nắng từ bao đời, in đọng lại như dòng máu khô chảy từ đỉnh núi – sau quyết định tại chỗ của Ban tổ chức. Một điều không ngờ là sau khi chúng tôi rời đảo, một người quen đã gởi đến tấm hình 36 năm trước. Khi xem lại và so chiếu, căn cứ vào dáng vẻ và màu sắc của vết nứt dọc triền núi trong 2 tấm hình, chúng tôi bàng hoàng nhận ra tấm Bia Tưởng Niệm nằm đúng nơi mà một nữ nạn nhân bị hải tặc hãm hại đang được các bạn đồng thuyền cứu cấp. Sự trùng hợp nhiệm mầu này đã làm cho mọi người cảm thấy nhẹ lòng rất nhiều.

"Tự do ơi tự do, em đổi bằng thân xác..." (Lời: Nhạc sĩ Nam Lộc)
Các nhóm khác, một cách tự nguyện, tham gia vào các việc bếp núc, lều trại, lượm củi, quay phim, phỏng vấn… Mỗi người một việc, tất cả đều sốt sắng vì biết đoàn không có nhiều thời giờ trong chuyến đi lịch sử này. Và ai nấy cũng nôn nao chờ đợi buổi sinh hoạt chung sau cơm tối.

Dù Úc là nhóm đông đảo, “chịu cày và chịu nhậu” nhất (19 người, từ khắp các tiểu bang của “xứ Miệt Dưới”), dẫn đầu bởi Trần Lão Gia và “Ông già Lựu Đạn”, nhưng có lẽ “đình đám” hơn là nhóm từ Mỹ (12 người) với “băng truyền thông” hăng say nghề nghiệp. Đặc biệt trong nhóm Mỹ còn có “cậu bé Koh Kra” Don Hồ, ca sĩ nổi danh trong các cộng đồng người Việt khắp thế giới. Từ đầu anh đã kín đáo yêu cầu Ban tổ chức không loan báo danh tánh để cho anh được tự nhiên sinh hoạt với mọi thành viên trong đoàn và thoải mái khóc cười với những kỷ niệm thời mới lớn trên đảo.

Các nhóm “lẻ loi” hơn – nhưng không vì thế mà… cô đơn – là từ Việt Nam (3 người, toàn thanh nữ độc thân, đang làm việc tại các nước Á châu khác), từ Canada (1 người mỏng như con mực khô, nhưng “ai tới đâu tui tới đó!” trong các công tác chung) và từ Pháp (1 phụ nữ cao niên lần đầu tiên tham dự Về Bến Tự Do cùng thân nhân ở Úc).

Nếu không vì nỗi ám ảnh quá khứ, có lẽ đêm trăng rằm mà chúng tôi trải nghiệm giữa khung cảnh bao la trời biển trên đảo sẽ là một thời gian lãng mạn và êm đềm nhất. Dẫu sao, đó cũng đã là một kỷ niệm khó phai trong lòng những người tham dự. Bên ánh lửa trại bập bùng và tiếng vỗ rì rào của sóng biển lên bãi san hô lao xao, chúng tôi đã có một buổi sinh hoạt tâm tình và văn nghệ mà bất cứ ai dù có tiền triệu cũng không thể mua được. Những tiếng đàn lời hát của Viễn Trình (Melbourne, Úc), Đức “Bolero” (Sydney, Úc) và Don Hồ (California, Mỹ), những chuyện kể từ các nhân chứng Koh Kra của Hữu Định (California, Mỹ) và Kha Long (Sydney, Úc), những chia sẻ của Liên Hương (Pháp), Phương Mai (Sydney, Úc) và Lê Hùng (Alberta, Canada), giọng đọc truyện trầm ấm của Hoàng Dũng (California, Mỹ), lời tường thuật truyền cảm của Ngọc Ân (California, Mỹ)… xen lẫn các câu chuyện tiếu lâm rôm rả và những ly rượu chuyền tay đã khiến mọi người lưu luyến không muốn “tan hàng” dù lúc ấy đã gần 3 giờ sáng.

Phần lớn những căn lều cá nhân được dựng lên từ chiều đã trở thành… vô dụng, vì mọi người đều mang túi ngủ ra lăn kềnh dưới mái che của căn trại chung, tranh thủ chợp mắt lấy sức cho buổi sáng cầu nguyện và du khảo. Chẳng ai thú nhận… sợ ma, có lẽ nhờ sự hiện diện của 6 vị tu sĩ và tượng Phật lớn trên đỉnh đảo.

Buổi sáng yên bình trên Koh Kra ngày nay (Tháng Ba 2016)
Tiếng lục đục pha cà-phê từ lúc chưa rõ mặt người của toán thám du lên đỉnh đảo dường như không đủ sức đánh thức những kẻ còn bị “phê” sau đêm văn nghệ. Toán thám du 6 người; gồm Kenneth Nguyễn (Mỹ), Lý Nhân (VN), Hùng Lê (Canada), Lym Trần (Úc), Đức “Bolero” (Úc) và “Duyệt Tuyệt sư thái” Phấn (Perth - Úc), không ai từng có kinh nghiệm đi rừng. Thay vì mang dao, giây, nước và lửa, họ chỉ “gói” theo một tràng chuỗi hạt, tượng Đức Mẹ và… kem chống nắng. Thiệt (là) tình!

Toán thám du khởi hành từ 5.30 sáng khi sóng biển còn rì rào ngái ngủ. Vì không ai biết địa thế của đảo hay đường đi, mọi người đã quyết định tách làm đôi: một nhóm tản về phía Đông Nam của đảo theo các triền đá và bãi bồi do thủy triều như nhà văn Nhật Tiến đã ghi lại, một nhóm di chuyển theo phía Đông Bắc hướng lên đỉnh đảo để tìm đường xuống các hang động mặt B (xem họa đồ).

Hoạ đồ các vị trí chính trên đảo Kra
Trích đoạn trong quyển “Thuyền Nhân – Vài Trang Bi Sử” của nhà văn Nhật Tiến (Việt Tide ấn hành nhân dịp tưởng niệm 30.04.2008):
... “Có nhóm phụ nữ lẻn vào rừng sâu nằm yên chịu trận với mưa gió lạnh lẽo suốt ngày đêm giữa những bụi rậm um tùm đầy rắn rết và bọ cạp, những con bọ cạp chỉ chích nhẹ một vòi là bắp thịt sưng vù lên và nhức buốt lên tới óc. Cũng có nhóm trèo lên núi cao chênh vênh, vách đá trơn trợt để chui vào những bụi cây um tùm, trong số này đã có những người bị trượt ngã xây xát khắp mình mẩy, nhưng rất may không có ai bị rớt xuống bãi biển qua vách đá dựng đứng ở cả hàng trăm thước bề sâu. Nhiều phụ nữ khác chui nhủi vào những mỏm đá ngoài bờ biển, ngâm chân suốt ngày đêm trong nước mặn, lúc nào lưng cũng phải khom xuống vì trần đá thấp…”

Sau khoảng nửa giờ tìm đường đi, chúng tôi nhận thấy hướng theo phía Đông là đường cùng, hướng duy nhất để lên đỉnh đảo để tiếp cận các hang động trên núi là theo đường rừng. Hai nhóm nhập lại và cùng tìm đường lên đỉnh. Một thành viên cao niên trước khi trở về trại do đường đi khó khăn, sau này kể lại ngay lúc đó đã nhìn thấy một cánh bướm trắng cứ quẩn quanh tại vị trí chúng tôi quyết định leo lên núi. Cánh bướm này cũng xuất hiện một lần nữa trước mặt Chị và một thành viên trong nhóm truyền thông Mỹ, khi đoàn tập trung để gắn tượng Đức Mẹ và Phật Quan Âm trên Bia Tưởng nhớ người tỵ nạn và Ghi ơn Ông Theodore G. Schweitzer.

Quãng đường đi và về từ trại mặt A lên đỉnh đảo (nếu không vòng qua các triền đá ở mặt Đông của đảo) mất khoảng 3.5 giờ. Dọc đường đi chúng tôi gặp rất nhiều bụi gai và tàng lá thấp, càng lên cao thì cây càng trở nên thưa và lớn, nhưng có đá tảng và trơn. Chúng tôi gật đầu với nhau rằng nếu không chuẩn bị cưa tay thì rất khó có thể lên được đỉnh và tìm di tích (bằng chứng là cả 6 thành viên sau khi trở về đều xây xát khắp mình mẩy; một thành viên cao niên còn bị trợt chân té xuống dốc, nhưng rất may mắn đã bám kịp vào một gốc cây; một thành viên khác trong lúc tìm đường xuống dốc đã đạp lên 1 tảng đá khiến nó rơi thẳng xuống người ở dưới, cũng rất may mắn người này tránh ra kịp). Các nhóm tìm di tích trong tương lai cũng nên chuẩn bị giày đi rừng và quần áo chống côn trùng, đặc biệt là vùng da quanh cổ, đồng thời mỗi người nên trang bị một nhánh cây thẳng, dài độ 1.2m, nặng vừa sức, để làm gậy đi đường và bảo vệ an toàn, vì qua năm tháng, lá khô và cành mục đã phủ lên những khe đá nứt, nếu không cẩn thận có thể sụp chân xuống và bị bong gân dễ dàng.
Đường lên núi, các hang động và bãi đá đậu ghe nhìn từ đỉnh núi
Khi tìm đường đi, chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến những mỏm đá không bị cản tầm nhìn bởi rừng cây dày đặc, nơi có thể nhìn ra biển mà ngày xưa Đồng Bào đã có thể tập trung để giơ tín hiệu S.O.S cho trực thăng và tàu Hải quân Thái Lan. Cũng tại những mỏm đá này, Đồng Bào có thể đã đứng canh chừng tàu hải tặc Thái tấp vào, từ đó dẫn các phụ nữ đi trốn trong các hang động mặt B.

Tại một hốc đá ở đỉnh đảo, chúng tôi trân kính đặt một linh tượng Mẹ Maria Ban Ơn đã được làm phép Thánh và mang từ Việt Nam sang. Tượng được đặt hướng ra biển, và dang tay như người mẹ che chở và xoa dịu những đứa con xấu số, trải qua quãng đời ngắn ngủi, khổ đau.

Chặn giữa đỉnh đảo và khu trại là một triền đá lớn, nhẵn, tương tự như triền đá nơi chúng tôi đặt Bia Tưởng Niệm. Các nhóm tìm kiếm trong tương lai khi gặp triền đá này nên tránh vì khá nguy hiểm, nên rẽ phải nhắm hướng khu trại, men theo một triền cỏ lau vì cỏ lau bám đất, có thể dựa theo đó để xuống sẽ an toàn hơn rất nhiều.

Đặt tượng Mẹ Maria và cầu nguyện trên đỉnh Koh Kra
Dưới bãi, vài nhóm nhỏ khác do Trần Lão gia hướng dẫn (và các toán truyền thông Mỹ - Úc bám theo để ghi nhận những hình ảnh và thực hiện phỏng vấn tại chỗ) cũng bắt đầu tản mác vào các bờ bụi ven chân núi để tìm kiếm di vật. Đường đi cũng gay go và vất vả chẳng kém nhóm lên núi thám du; cũng gai nhọn, kiến vàng, cành mục, lỗ hang trồi sụp bất ngờ… Nghĩ lại mấy chục năm trước, những cô gái tả tơi, ốm đói, kiệt sức đã phải băng mình qua đoạn đường này để lên núi trốn bọn hải tặc mà không khỏi quặn lòng.

Sau vài giờ vạch cây hốt lá tìm kiếm, các nhóm đã phát giác ra bốn ngôi mộ đơn sơ (có thể còn nhiều hơn nếu có thêm thời gian) nằm gần nhau, được đánh dấu bằng những hòn đá xếp thành vòng tròn. Mọi người cũng đứng thành vòng tròn, chắp tay tưởng niệm trong thinh lặng của núi rừng u tịch hoang dã. Làn khói trắng từ những nén hương cầu nguyện tỏa lên, mong manh như phận người mà thắm thiết như tình tự quê hương.

Chúng tôi cũng đã tìm thấy một số vật dụng bên cạnh những ngôi mộ này: một bình trà, lọ hương, chiếc giày của một bé gái, vài mảnh xoong chảo đã rỉ sét và một lon sữa Guigoz, những món đồ không thể nhầm lẫn của thời khốn khó mang đi từ quê hương trên đường tìm sống. Những di vật đó sẽ được gìn giữ ở Viện Bảo tàng Thuyền nhân VN tương lai như các chứng tích của cuộc đào thoát bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc.

Những di vật thuyền nhân VN tìm thấy trên Koh Kra
Trên bãi, trời đã sáng rõ. Một ngày mới bắt đầu, tinh khôi như… vừa đến đây hôm qua. Ăn uống qua loa (một chuyện đã làm cho Ban tổ chức nhức đầu, nhưng bây giờ lại quá dư dả), mọi người bắt tay ngay vào việc thiết lập bàn thờ cầu nguyện cho các vong hồn oan thác. Bóng mát của mái lều, màu sắc của bốn chậu bông giấy tươi tắn, những phẩm vật cúng tế trên bàn thờ, màu áo vàng đất của các sư thầy Thái Lan… hoà quyện trên nền cát trắng và rừng xanh thành một bức tranh sống động giữa trời biển mênh mông. Từng bàn tay ân cần, từng lời nói nhỏ nhẹ, từng bước chân êm ái… tất cả như e ngại một âm thanh hoặc cử chỉ bất nhã nào có thể gây xáo động những vong linh đang tụ về.

Năm vị sư Thái đã cùng hợp niệm với Thượng toạ Thích Phước Thiền (Chùa Quang Minh, Melbourne – Úc) trong buổi lễ chiêu hồn và cầu siêu trang nghiêm và cảm động. Lời kinh trầm buồn quyện theo mùi hương thoang thoảng trong gió sớm đã khiến nhiều người không ngăn được nỗi ngậm ngùi cho những đồng bào bất hạnh trên đường đi không đến.
Lễ cầu siêu với sự hợp niệm của các vị sư Thái – Việt trên Koh Kra
Cũng tại địa điểm cầu nguyện này, một nhóm tín đồ Công giáo đã dâng lễ tạ ơn và hát “Kinh Hoà Bình”, một bài thánh ca do Lm. Kim Long viết theo Lời nguyện của Thánh Francis thành Assisi ở Ý vào thế kỷ 13, thay nén nhang lòng gửi đến những người nằm xuống và trao truyền tin yêu cho người đang sống, để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”
Lễ Tạ Ơn và hợp xướng Kinh Hòa Bình trên Koh Kra
Bữa ăn trưa cũng vội vàng để kịp dọn trại trước khi biển trở sóng. Chẳng ai tha thiết lắm về nhu cầu bao tử, vì cảm xúc đã ngập tràn trong lòng họ. Chúng tôi cũng không quên dọn rác trên bãi trước khi rời đảo. Ít ra nó cũng sạch hơn khi chúng tôi mới đến…

Cùng nhau nhặt rác trước khi rời đảo...
Làn gió biển nhè nhẹ của mùa đồng chung mơn man trên đường về đã giúp những mí mắt trĩu nặng vì thiếu ngủ được dăm phút nghỉ ngơi. Những địa danh xa lắc xa lơ mà cồn cào nỗi nhớ một thời như Hat Yai, Songkhla, Tha Sala, Hua Sai, Nakhon, Pak Panang... đang chờ đợi chúng tôi trong chặng đường kế tiếp của chuyến hành hương.

Bỗng nhớ, thật tình cờ, một đoạn trong bài thơ dài “Ta về” của Tô Thùy Yên:


“Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này”…

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay... ("Ta về", thơ Tô Thuỳ Yên)


Bài tường trình này, trong cách riêng của người viết, xin được hoá thân làm một giọt rượu hồng gửi đến những thuyền nhân Việt Nam nằm lại ở Koh Kra.

Lưu Dân & Lý Nhân
Tháng Ba 2016.
(Nhân chuyến Về Bến Tự Do 24 do VKTNVN tổ chức)

**************

Koh Kra, Koh Kra…

Koh Kra, Koh Kra
Vách đá dựng
Hoang đảo mịt mù xa
Từ hốc núi ẩn thân
Một bước sẩy chân
Xác rơi không tiếng vọng
Còn rờn rợn giọng cười dã thú
Bầy hải tặc gầm rú say sưa
Mưa sớm nắng trưa
Đọng thành dòng tội ác
Như vệt máu thời gian tan tác…

Tháng Ba chúng tôi về
Dù trễ mấy mươi năm
Vẫn những con sóng cũ
Đầu quấn khăn tang
Chập chờn trắng biển…

Hình như có tiếng ai
Nửa như trách
Nửa như than
Cừu hờn, oan nghiệt
Thoảng theo tiếng gió
Về trong tiếng mõ tiếng chuông

Hồi kinh chiêu hồn lặng lẽ
Vị sư già quệt giọt lệ như sương
Đã đi qua mấy đoạn trường
Mà sao hạt bụi vẫn còn vướng mi…

Trên đỉnh đảo
Tiếng hát ai đứt nghẹn
“Xác em nay ở phương nào?”
Xin chờ nhau cuối chiêm bao trùng phùng

Koh Kra, Koh Kra…
Em ở lại, ngàn năm ngời trinh tiết
Tôi để lại, một đời không quên được
Gửi trùng khơi lời tưởng tiếc khôn nguôi…

***

Lưu Dân (Sydney, Australia)
Tháng Ba 2016
(Nhân chuyến Về Bến Tự Do 24 do VKTNVN tổ chức)




Source: http://lyhuong.net/uc/index.php/thuyennhan/4477-4477