Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017

Thức Tỉnh Thức Tỉnh

Thức Tỉnh



Tác Giả: Phan Xuân Sinh


Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, anh đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng. Anh theo chân những người tị nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều. Không ai quan tâm hoặc theo dõi kẻ khác, không phạm pháp thì không sợ sệt ai. Trong trại ai cũng thân thiện, tận tâm chỉ vẽ nhau những điều người khác không biết. Mọi người chung quanh thương mến anh vì bản tính hiền lành. Ở Hồng Kông gần 1 năm thì anh được phái đoàn Mỹ nhận cho đi định cư.

Thế nhưng có một điều làm anh thắc mắc mãi, tại sao một ông thầy chùa đã giúp đỡ anh tận tình như vậy ? Anh chưa hề quen biết ông. Anh nhớ lại cái đêm vượt biên bị Công An phát giác, anh nhảy xuống sông vừa bơi vừa lặn, trước khi tàu Công An kẹp sát. Lên bờ vì trời tối anh không biết đây là nơi nào. Anh lần mò trong bóng tối chừng ba tiếng đồng hồ vẫn không thấy đường cái. Bỗng nhiên anh trông thấy ánh đèn từ xa, anh đi tới, thì ra đây là ngôi chùa nhỏ. Anh vào chùa gặp vị sư còn trẻ, Sư hỏi anh cần gì ? Anh tình thật thưa rằng anh đang lạc đường và xin được giúp đỡ. Vị Sư đưa anh vào chánh điện rồi đến thưa với thầy trụ trì. Thầy trụ trì chừng trên dưới sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ màu lam, nước da ngăm đen, khuôn mặt hiền từ. Khi nhìn thấy anh Thầy có vẻ hơi giật mình. Thầy bảo người Sư trẻ dọn cơm cho anh ăn. Trong lúc nói chuyện để anh an tâm, Thầy cho anh biết sẽ không có ai làm phiền hay quấy rối anh. Anh muốn ở đây bao lâu cũng được. Thầy đích thân dọn phòng cho anh ngủ. Anh tự hỏi giữa lúc khó khăn, gạo châu củi quế, thế mà nhà chùa lại rộng lượng quá vậy.

Sáng dậy, anh bước ra phòng rửa mặt thì đã thấy Thầy ngồi tại bàn ăn đang uống trà. Thầy mời anh cùng uống trà và nói chuyện. Tuyệt đối Thầy không hỏi anh về cuộc sống hiện thời, về gia đình, về nơi ăn chốn ở. Thầy dặn anh có ai hỏi thì bảo anh là bà con ở quê ra thăm thầy. Thầy cũng cho anh biết ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nên ăn uống sơ sài, không biết anh có chịu được không ? Anh chắp tay cám ơn Thầy và nói “Được Thầy bảo bọc, chuyện ăn uống không thành vấn đề, tất cả đều tốt với tôi. Xin Thầy đừng bận tâm”. Khi còn ở nhà, anh và vợ con bữa đói bữa no, làm gì được như thế nầy. Trong những ngày ở chùa, Thầy ít khi gặp anh, ít nói chuyện với nhau ngoại trừ vào bữa ăn. Không hiểu sao Thầy cố giữ anh lại, mà không cho biết lý do. Chừng mười ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Thầy bảo anh ngồi lại để Thầy nói chuyện. Chỉ còn lại hai người đối diện nhau, Thầy nói với anh :

- “Khi anh bước chân vào chùa nầy, tôi đã biết anh là người trốn thoát Công An lùng bắt vì tội vượt biên. Ở đây tôi đã gặp vài trường hợp giống anh và tôi đã che chở nên họ về nhà an toàn. Như anh biết chùa là nơi mở rộng vòng tay giúp đỡ cho những người sa cơ thất thế, chúng tôi làm hết sức mình trong điều kiện cho phép. Hơn nữa vượt biên theo tôi không phải là cái tội, họ chỉ trốn thoát chế độ không phù hợp với họ, không chống cự, không phản đối, thì không thể bảo họ mang tội. Trường hợp của anh khác với những người kia, khác như thế nào sau nầy anh sẽ rõ. Đêm nay có một chuyến vượt biên uy tín mà tôi tin tưởng, tôi muốn gửi anh đi trong chuyến nầy, mười một giờ sẽ có người tới dẫn anh đi. Tôi đã chuẩn bị sẵn cho anh mọi thứ, gồm có hai bộ quần áo để anh thay đổi khi tới nơi, và một lượng vàng cho anh tiêu dùng trong thời gian chờ định cư đến nước thứ ba.”

Anh trố mắt nhìn Thầy mà không nói nên lời, anh đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Không biết lý do gì mà Thầy tận tình giúp đỡ anh như vậy. Thầy bảo anh về phòng nằm nghỉ, chờ đến giờ có người tới đưa đi. Thầy không cho anh nói một lời nào dù là lời cám ơn. Thầy lên chánh điện tụng kinh. Anh nằm suy nghĩ mãi về sự giúp dỡ nầy của Thầy. Một lượng vàng là một tài sản không nhỏ vào thời điểm đó. Thế mà Thầy lại biếu anh, chưa kể Thầy còn phải đóng tiền cho chủ ghe để được đi, chứ không ai cho đi không. Anh thắc mắc sao lại có một người tốt như vậy. Anh hứa với lòng mình, sau khi An cư Lạc nghiệp ở xứ người, anh trở về thăm thầy, anh hỏi thầy lý do tại sao thầy đã giúp đỡ anh. Anh nghĩ sẽ hoàn trả lại số vàng bằng gấp bao nhiêu lần mà Thầy đã chi phí cho anh. Thầy nói chùa đã từng che chở cho những người vượt biên bị bể, đã đưa họ về nhà, đó là một việc làm tốt, một công đức cao cả mà chỉ có Bồ Tát mới hành xử như vậy. Vì biết bao nhiêu hệ lụy sẽ gây rắc rối cho chùa và cho Thầy nếu chính quyền biết được. Ấy vậy mà Thầy chẳng sợ gì. Niềm tin nào đã làm cho Thầy hành động một cách liều lĩnh như thế. Sống giữa một xã hội mà người dân chỉ còn cách trốn ra nước ngoài mới yên thân, thì còn sợ chi chuyện bắt bớ. Tuy nhiên ở trường hợp của Thầy lại khác, Thầy đứng ngoài mọi liên hệ với những người chạy trốn, mà lại dang tay ra đỡ cho họ khỏi bị tù tội. Còn hoàn cảnh của anh được Thầy che chở rồi lại tìm cách đưa đi tiếp. Qua sự việc nầy, Thầy đã tạo cho anh một niềm tin vào cuộc đời, vẫn còn có người đầy lòng nhân ái.

Anh nằm trong phòng không nhắm mắt được. Anh nghe tiếng tụng kinh của thầy ngoài chính điện, giọng thầy trầm bổng uy nghi, gieo vào lòng anh một thức tỉnh và suy tư. Anh chưa bao giờ nghe được những lời kinh có uy quyền, thấm đẫm vào lòng anh một cách sâu xa, xoa dịu những nhọc nhằn căng thẳng mà anh đã từng gánh chịu. Anh suy nghĩ, đây mới chính là nơi Phật hiện diện. Không cần chi chùa phải lớn, phải nguy nga. Chính ngôi chùa nhỏ bé nầy, ở một nơi hẻo lánh mà đã chứa lực đại hùng của Phật, sáng tỏa trong lòng anh sự từ bi mà bây giờ anh mới ngộ ra được. Người anh lâng lâng như đang bước vào một cõi tâm thức, tiếng kinh như thinh lặng, đôi lúc dìu dặt, đôi lúc khoan thai, có phải chăng đang dìu anh ra khơi trong êm ả, một chuyến đi mà anh không còn mang nỗi sợ. Rồi anh thiếp đi lúc nào không hay.

Gần mười một giờ đêm, Thầy vào gọi anh dậy. Thầy trao cho anh cái bọc nylon chứa hai bộ quần áo và một lượng vàng. Thầy bảo anh cẩn thận cất vàng vào túi quần sau cài nút lại. Trong bọc nylon có một lá thư, Thầy dặn khi lên ghe lớn hãy đọc. Nếu trường hợp bị Công An phát hiện, bằng mọi cách phải hủy lá thư trước. Thầy đứng ngay cửa nhìn anh ra khỏi chùa. Người dẫn đường đưa anh ra ghe nhỏ cách đó chừng nửa giờ. Trên ghe có khoảng mười người, rồi ghe chạy ra sông cái tấp vào ghe lớn đang chờ sẵn. Khi leo lên ghe anh làm rớt bọc Nylon xuống sông không vớt lên được. Như vậy lá thư và hai bộ áo quần mất từ đó.

Đúng như lời Thầy nói, chuyến đi rất an toàn, hai ngày sau tới Hồng Kông. Anh đổi lượng vàng ra thành 10 chỉ, để tiêu dùng trong những ngày sống ở trại tị nạn. Anh tiện tặn vì không biết chờ đợi đến bao lâu mới đi định cư ở nước thứ ba. Anh may mắn được phái đoàn Mỹ phỏng vấn và cho đi sớm. Một gia đình người Mỹ ở Oakland California làm sponsor cho anh. Lúc đó Oakland chưa có người Việt nhiều, thành phố toàn người Mỹ đen và Mễ. Dần dần những năm sau người Việt tới định cư và những quán Café mọc lên ở đường E.14. Chính ở đây là nơi truyền những tin tức từ Việt Nam qua, chuyện bàn luận Chính trị bắt đầu sôi nổi trên bàn Café của những chính khách không tên tuổi. Đúng, sai không ai cần biết, có cãi vả với nhau khi bất đồng, nhưng tất cả đều bỏ lại bàn, không ai mang trong lòng. Đó là niềm vui duy nhất của mỗi cuối tuần cho những người Việt tha hương sinh sống trong Thành phố. Anh share phòng với một gia đình Việt Nam, ăn uống anh tự túc nấu lấy, nên tiết kiệm thêm một ít tiền. Anh viết thư bảo vợ thỉnh thoảng qua chùa Mân Thái cúng Phật và thăm Thầy Trụ Trì. Anh cho chị biết, Thầy là ân nhân của anh và gia đình, chị phải thay anh thăm viếng Thầy thường xuyên.

Sau khi có quốc tịch Hoa Kỳ, anh làm hồ sơ bảo lãnh vợ con. Anh thu xếp một chuyến về Việt Nam, để trước hết thăm Thầy, sau đó hỏi về lý do Thầy đã tận tình giúp anh. Một thắc mắc cứ canh cánh trong lòng khiến anh trăn trở mãi. Thầy thường che chở cho những người vượt biên, nhưng Thầy chưa bao giờ nói là đã giúp ai phương tiện và vật chất để họ tiếp tục đi như anh. Thăm viếng gia đình, bà con hang xóm xong, anh đón xe đi Mân Thái thăm Thầy. Chùa vẫn y nguyên như xưa, như những ngày anh sống dưới sự bảo bọc của Thầy. Anh gặp vị sư trẻ, vị sư nầy nhận ra anh ngay. Thầy nhìn anh, đôi mắt Thầy sáng lên đầy ngạc nhiên và vui mừng. Anh chạy đến ôm Thầy, anh cảm thấy sung sướng, nước mắt ràn rụa. Thầy mời anh ngồi trên chiếc bàn ăn ngày nào. Anh tình thật thưa với Thầy là lúc hối hả leo lên tàu lớn trong đêm tối, anh đánh rơi bọc Nylon có lá thư và hai bộ áo quần Thầy cho, nên đến bây giờ anh vẫn không biết trong thư Thầy viết gì. Thầy cười hiền hòa và nói trong thư căn dặn anh phải giữ gìn sức khỏe, luôn luôn nghĩ tới vợ con, chứ không có gì quan trọng. Thế nhưng anh không nghĩ như vậy, có một điều gì bí mật mà Thầy chưa tiện nói ra.

Anh ở lại chùa vài ngày để trò chuyện với Thầy, luôn tiện anh xin Thầy cho anh quy y. Thầy đồng ý. Thế là mỗi đêm, khi Thầy tụng kinh anh cũng chắp tay ngồi phía sau, vừa nghe câu kinh Thầy tụng vừa thấy lòng mình lắng xuống, như ngộ ra được một cái gì đó rất tâm linh mà không thể nào diễn tả được. Mỗi lần tụng xong câu kinh Thầy gõ một tiếng chuông, rồi cúi xuống lạy. Tiếng chuông ngân vang trong đầu anh, như dẫn dắt anh bước vào sâu thẳm của cõi siêu hình. Dạy cho ta những đạo đức để giữ mình, để sống với tha nhân. Anh cảm thấy những ngày ở chùa tuy ngắn ngủi nhưng anh đã học được nhiều điều quý giá. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy và anh ngồi uống trà nói chuyện. Thầy nhìn thẳng vào mắt anh, rồi từ từ nói :

- “Chắc anh thắc mắc trong lòng bấy lâu nay, là tại sao tôi tận tình giúp anh, tiếp tay làm tròn ước nguyện mong muốn của anh là vượt thoát ra khỏi đất nước. Chẳng qua đó là cái ơn mà tôi phải trả cho anh trong thời kỳ chinh chiến. Có lần anh đã giúp tôi mà anh tuyệt nhiên không hay biết. Bây giờ tôi xin kể đầu dây mối nhợ của câu chuyện. Anh không còn nhớ, nhưng với tôi chuyện gặp anh lúc đó tôi không bao giờ quên được. Trước khi nhắc lại chuyện cũ, Tôi xin nói về tôi. Tôi có vợ và hai con, hồi đó gia đình chúng tôi sống trong vùng mất an ninh. Tôi hoạt động Cách mạng và làm đến chức Huyện Ủy Viên. Vợ con tôi chết trên chuyến đò tiếp tế bị máy bay phát hiện, từ đó tôi là người không có gia đình. Tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ hoạt động trong vùng Hòa Vang và Điện Bàn. Để dễ dàng đi lại, tôi giả làm một nhà sư mặc áo nâu sòng, trên vai luôn luôn mang cái bị chuông mõ, nhưng thực tế trong đó chứa những tài liệu hoạt động và một khẩu súng ngắn. Tôi tránh đi lại ban ngày vì sợ dễ bị phát giác. Thường di chuyển vào lúc mặt trời sụp tối và Du kích địa phương báo trước cho tôi biết đoạn đường nào an toàn để đi.

Buổi chiều tôi nhận được lệnh là sáng hôm sau tôi có một cuộc họp với thượng cấp tại xã Thanh Trường, huyện Điện Bàn. Tôi và hai cận vệ yên tâm ra đi, người cận vệ đi đầu bi đau bụng nên ngồi lại đi cầu, như vậy tôi trở thành người đi đầu. Đi được một đoạn thì tôi bị một toán lính Quốc Gia phát hiện, người đi phía sau tôi núp vào bụi cây nên thoát được. Tôi được dẫn vào trình diện ông Trung úy Đại đội trưởng, người Chỉ huy cuộc hành quân đó. Tôi nghĩ trong bụng, tôi không thể nào thoát được lần nầy, thế nào họ cũng xét người và chiếc bị mang trên vai, đầy tài liệu và cây súng ngắn trong đó... Dưới ánh đèn nho nhỏ, ông Trung úy ngước lên nhìn tôi với khuôn mặt hiền từ, hỏi tôi một câu cho lấy lệ : “Thầy đi đâu trong đêm tối ? Thầy có biết vùng nầy nguy hiểm lắm không ?” Tôi thưa với ông rằng : “Xóm trên có người mới mất, tôi đến tụng kinh rồi ra về. Không ngờ trời sụp tối mau vậy.” Người lính đứng gần hỏi ông Trung úy có cần xét ông thầy nầy không ? Ông Trung úy nói khỏi cần, rồi sai người lính trải Poncho cho thầy ngủ lại, sáng mai hãy về, chứ đi trong đêm thế nào cũng bị bắn. Tôi nghĩ lúc đó có người khuất mặt che chở cho tôi nên họ không xét người tôi. Sáng hôm sau thức dậy, ông Trung úy đưa cho tôi một ca nước trà, rồi tôi lên đường. Suốt trên đoạn đường đi, tôi suy nghĩ mãi về ông Trung úy. Điều gì đã làm cho ông cư xử với tôi như vậy ? Ông có biết rằng trong đêm đó tôi có thể giết ông rồi bỏ chạy, giữa đêm khuya tối mịt làm sao bắn trúng tôi ? Ai đã khiến tôi, ngăn cản tôi không làm điều đó. Trong chiến tranh không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, giết người không một chút cắn rứt. Nhưng giữa anh và tôi, hai kẻ thù gặp nhau ở điểm “lòng nhân ái”, không biết nó đã tiềm ẩn trong người tự lúc nào mà khi nó tỉnh dậy lại vào lúc đúng nhất. Từ đêm đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về tâm linh, chiếc áo nâu sòng tôi đang mặc, phải có cái duyên tôi mới khoác nó lên người. Trong những năm cuối cùng chiến tranh chiếc áo như đã che chở cho tôi tránh những lằn tên mũi đạn. Tôi nguyện trong lòng, sau khi cuộc chiến chấm dứt, thế nào tôi cũng tìm gặp anh. Ánh mắt và khuôn mặt anh không làm sao tôi quên được. Anh đã cứu tôi không những tại mặt trận, mà còn cứu tôi ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Tôi luôn luôn âm thầm cầu nguyện cho anh thoát khỏi mọi tai ương. Cái đêm anh bước vào chùa, khi anh ngước lên nhìn tôi, cũng ánh mắt ấy cách đây hơn mười năm giống hệt nhau. Tôi giật mình, ân nhân năm xưa bây giờ đã đến, tôi có bổn phận phải giúp anh, phải đưa anh thoát khỏi nghịch cảnh mà anh và gia đình gánh chịu. Bây giờ anh đã hiểu rồi chứ ? Đây là cơ hội cho tôi trả lại anh món nợ cũ. Điểu làm tôi suy nghĩ mãi là cơ duyên nào đưa anh tới đây ? Có phải chăng ơn trên đã dẫn dắt anh. Trong cuộc sống thiên hình vạn trạng, rất hiếm có trường hợp giống nhau. Thế mà chúng ta lại rơi đúng vào sự trùng hợp nầy một cách bất ngờ."

Anh sững sờ nhìn Thầy, một câu chuyện mà anh không hề nghĩ đến, cho đến bây giờ Thầy nhắc. Đúng là trường hợp hi hữu, tất cả đều có sự sắp xếp của ơn trên. Ký ức anh bắt đầu quay về khoảng không gian mười năm trước đây :

“Hồi đó đơn vị anh hành quân ở khu vực Miếu Bông, sát Quốc lộ 1, giữa đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện. Gần 6 giờ chiều, anh được lệnh di chuyển vào khu vực xã Hòa Lân gần một con lộ đá từ Non Nước vào Hội An. Chính sự di chuyển nầy đánh lạc hướng du kích địa phương và những liên lạc viên, vì họ không ngờ đơn vị của anh di chuyển ban đêm. Ông Huyện ủy viên tưởng rằng không có lính Quốc gia hành quân, nên ông mới đi trên lộ trình nầy. Khi ông bị lính chận lại, ông rất ngạc nhiên tại sao một cuộc hành quân như vậy mà du kích không phát giác được. Chỉ huy Đại đội đóng gần cái miểu, anh treo chiếc võng bên ngoài, định nằm nghỉ thì người lính gác dẫn một ông thầy chùa vào trình diện. Anh ngước nhìn thấy ông thầy chùa cũng lớn tuổi, con người khắc khổ tội nghiệp. Anh không nghi ngờ gì cả, bảo ông nghỉ lại đây cho an toàn rồi ngày mai về sớm. Đi trong đêm nguy hiểm vì có thể gặp đơn vị Quốc gia khác đi kích, lúc đó khó tránh khỏi rắc rối. Đơn giản là như vậy, chứ anh hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác, hoặc nghi ngờ ông thầy chùa là Việt Cộng. Sáng hôm sau khi ông thầy chùa đi rồi, thì anh mới tự hỏi tại sao mình không lục xét ông thầy, biết đâu ông là Việt Cộng thì sao ? Giữa thời buổi chiến tranh bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ. Nghĩ như vậy, nhưng anh không cho lính chạy theo gọi ông trở lại. Chuyện nầy anh cũng lãng quên, bây giờ Thầy nhắc anh mới nhớ lại.”

Anh nhìn Thầy, nhưng hoàn toàn không còn nhớ khuôn mặt. Càng nghĩ anh càng cảm thấy sự màu nhiệm của đức tin, có thể biến đổi được con người, xoa dịu những vết thương tưởng chừng như không bao giờ xóa đi được. Anh lặng người để tâm hồn lắng xuống, nhìn Thầy như cảm nhận có được một luồng hùng lực tỏa sáng. Khuôn mặt Thầy hiền từ, ăn nói chậm rãi, từ tốn. Anh thấy, Thầy hoàn toàn lột xác. Thường thường chính trị viên nào cũng ăn nói lưu loát, cứng rắn, họ là những người nắm sinh mạng của đơn vị, đẩy những chiến binh dưới quyền mình vào chỗ dầu sôi lửa bỏng. Bây giờ lời Thầy có một hấp lực mang đến sự an lành cho mọi người. Ôi, tất cả đều nằm trong nghiệp số.

- Thưa Thầy, thế thì lúc nào Thầy mới chính thức bước vào đường tu hành ?

Thầy nhìn anh cười. Bây giờ anh mới để ý nụ cười của Thầy hiền lành, đúng là một bậc chân tu :

- Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi quân Cách mạng hoàn toàn chiếm Miền Nam, cũng vào ngày đó tôi chính thức đi tu. Những bạn bè cũ cùng chiến đấu với tôi rất ngạc nhiên. Lúc được hưởng những sung sướng nhất, giàu sang nhất, tôi lại chọn lấy con đường cực khổ nhất. Tôi trả lại tất cả những chức vụ, đảng viên, những quyền hành v.v... chỉ xin một điều, hãy để cho tôi yên, đừng quấy phá làm phiền tôi. Những ai đến thăm chùa, những ai ngụ trong chùa xin các người đừng gây rắc rối cho họ. Những ngày tôi theo Cách mạng, hy sinh cả vợ con, sự cống hiến của tôi đã đủ. Bây giờ cho tôi yên phận trong tuổi già. Tôi nghĩ chỉ có con đường nầy mới giải thoát được tôi, vợ con tôi dưới suối vàng cũng mĩm cười. Lúc đầu họ không chịu, nhưng tôi quyết liệt quá, họ đành phải chìu ý tôi. Họ bảo tôi lãnh đạo Phật Giáo tỉnh, tôi từ chối. Tôi muốn làm một người tu hành đúng nghĩa nhất. Không lợi dụng chiếc áo cà-sa nữa, vì tôi đã lợi dụng nó quá nhiều trong thời chiến tranh để che đỡ mình.

Lúc đầu khi về chùa tôi thỉnh một bộ kinh và sắm chuông mõ, tôi tự trồng trọt để nuôi thân. Dân địa phương họ biết tôi trước đây hoạt động cho quân Giải Phóng nên họ rất e dè, ít người lui tới. Dần dần người nầy truyền đạt cho người kia về tôi, họ thấy tôi không nguy hiểm mà trái lại rất dễ thương. Từ đó chùa có một sinh khí mới, buổi tối ai rãnh thì đến chùa tụng kinh với tôi. Đạo hữu họ cũng biết chùa che chở cho nhiều người trốn thoát Công An, họ cho đó là việc làm đúng. Công An họ tin rằng tôi là một đảng viên, không thể chấp chứa những thành phần phản động. Nhưng họ không ngờ rằng tôi bây giờ đã hoàn toàn lột xác, tất cả đều là anh em, không thù không oán. Chính vì vậy chùa đã bao che cho những người vượt biển trốn tại đây.

- Thưa Thầy, chùa nầy đã có trước đây hay mới làm và người đệ tử theo Thầy từ lúc nào ?

- Chùa nầy trước đây là chùa hoang, nằm trong vùng oanh kích tự do nên không ai dám lui tới. Làng mạc tiêu điều, dân làng ra Thành phố tỵ nạn tránh bom đạn, chùa không còn ai hương khói. Chỉ có tượng Phật lành lặn, còn tất cả đều bị đạn bắn phá. Chính điều nầy cũng làm cho tôi bao nhiêu đêm suy nghĩ, tượng Phật không hề hấn gì cũng lạ thật. Những năm cuối cuộc chiến, tôi ngủ dưới bệ tượng Phật, tôi cảm thấy an tâm, hình như có một cái gì đó che chở cho tôi. Tôi nguyện trong lòng, sau khi đất nước hòa bình, tôi sẽ về đây tu bổ lại ngôi chùa và sinh sống. Nếu gặp được phước duyên tôi sẽ đi tu, gia đình vợ con không còn nữa, chẳng còn chỗ nào làm nơi nương tựa. Trong thời chiến tôi lấy nơi đây làm nơi cư ngụ và hoạt động. Sau nầy, như mong ước, tôi tu bổ dần dần trở thành một ngôi chùa tuy không lớn, nhưng đạo hữu đến cũng khá đông. Tôi dự định sang năm đủ tiền, sẽ xây lại lớn hơn, để những người con Phật có nơi khang trang hành lễ trong những ngày Vía lớn. Người Thầy trẻ phụ giúp tôi trong chùa, lúc thầy đến mới 10 tuổi, cha mẹ thất lạc lúc chạy loạn. Thấy tội nghiệp tôi nuôi nấng cho ăn học. Bây giờ thầy đã là Kỹ sư công nghệ. Tôi bảo thầy có thể ra đời lấy vợ, vì chuyện ở chùa chỉ là hoàn cảnh bức bách lúc đó. Thầy bảo là con quyết tâm tu hành theo chân sư phụ. Thôi biết đâu cũng là cơ duyên. Tôi không bao giờ sai bảo thầy nhỏ những gì mà tôi có thể làm được, thầy thấy tôi làm việc nầy thì thầy làm việc khác, từ xưa đến giờ trở thành một nề nếp. Cách đây hai năm cha mẹ của thầy trẻ từ nước ngoài về tìm thầy. Khi họ lạc nhau thầy đã 10 tuổi nên thầy dễ dàng nhận ra cha mẹ. Cha mẹ sẽ bảo lãnh cho thầy đi, nhưng thầy vẫn chưa quyết định. Tôi có khuyên thầy nên đi, dù sao tình ruột thịt cũng cần thiết hơn. Tôi nghĩ thế nào thầy trẻ cũng rời khỏi chùa, nên tôi đang tìm một người sau nầy sẽ thay tôi. Cái khó không phải là không có người, mà người thay thế tôi có được lòng bà con, có siêng năng tu tập, có đủ nghị lực để quán xuyến ngôi chùa không. Và điều quan trọng nhất là đừng để chùa biến thành công cụ phụng sự Chính trị. Nhiều đêm suy nghĩ nhưng chưa tìm được người như vậy. Thật tình thì có lo lắng cũng không được. Thôi thì cứ để mọi chuyện từ từ, người nào có Phật duyên tự nhiên sẽ đến.

Bây giờ tôi già rồi, những việc nặng nhọc không làm được, người đệ tử của tôi quán xuyến hết. Hơn nữa đạo hữu cũng khá nhiều, mỗi ngày có vài người đến chùa làm công quả, nên tôi có thì giờ nghỉ ngơi, chỉ lo Phật sự. Tôi tự tu hành, học trong kinh sách của Phật dạy. Phần nhiều kinh sách viết bằng chữ Hán nên đã gây cho tôi khó khăn lúc ban đầu.

Mặc dù Thầy không đi tu từ nhỏ, nhưng quyết tâm cố gắng của Thầy, kiên trì học hỏi của Thầy, đã tạo cho Thầy một con người thông hiểu giáo lý nhà Phật, có một kiến thức rộng. Thầy không có một vị sư đỡ đầu, trong Phật Giáo gọi người nầy là Thầy Bổn Sư, nên khi gặp những rắc rối liên quan đến sự tu hành, Thầy tìm đến những cao tăng xin chỉ dạy. Mỗi tháng hai lần, ngày mồng Một và ngày Rằm, Thầy thuyết giảng để đạo hữu hiểu những điều Phật dạy, để sửa mình, để tu thân. Chính quyền tại đây biết rõ về Thầy nên không ai đến quấy rầy. Vì vậy Thầy yên tâm tu hành. Từ khi chính thức bước vào cửa chùa, Thầy không quan tâm đến sự việc bên ngoài. Tiếng tăm của Thầy dần dần được những Phật tử quanh vùng biết đến và từ đó sinh hoạt Phật sự trong chùa trở nên nhộn nhịp hơn. Có người đề nghị với Thầy nên trùng tu lại ngôi chùa cho phù hợp với số đạo hữu ngày càng gia tăng. Thầy nhận biết điều nầy, nhưng Thầy không dám kêu gọi đóng góp. Thầy cố tiện tặn để dành nhưng vẫn chưa đủ tiền thực hiện.

Một buổi sáng trong lúc uống trà, anh đặt một bọc tiền trên cái khay nhỏ, rồi thưa với Thầy :

- Thưa Thầy, đây là số tiền con dành dụm từ lâu, con hứa khi về quê nhà con sẽ nhờ Thầy dùng nó để làm việc gì mà Thầy cảm thấy cần thiết phải làm. Con không nghĩ là trả lại cái ơn mà Thầy đã giúp, vì ơn nầy to lớn quá con không trả nỗi. Con thấy Chùa hư hại quá nhiều, Thầy cho con góp một tay với Thầy xây dựng lại tốt hơn. Nếu có thiếu hụt trong lúc trùng tu, con sẽ gửi về thêm để Thầy trang trải.

Thầy nhìn anh, Thầy cảm thấy như anh trả lại món nợ trước đây Thầy đã giúp anh vượt biên, nhưng khi nghe anh trình bày thành thật. Thầy trầm tư, đắn đo có nên nhận của anh hay không ? Cuối cùng Thầy quyết định :

- Lòng tốt của anh Thầy ghi nhận. Tuy chùa cũng rất cần, nhưng nhận số tiền nầy của anh Thầy cảm thấy áy náy quá. Thôi thì thay mặt chùa, Thầy cám ơn anh. Thầy sẽ nhờ người vẽ kiểu rồi từ từ thực hiện theo đó. Làm cho đến khi nào hết tiền thì ngưng, có tiền làm tiếp. Ngày xưa các vị sư tổ xây chùa từ đời nầy qua đời khác, không có ai xây chùa chỉ một đời. Lấy kinh nghiệm nầy, Thầy sẽ thực hiện cho đến khi nào Thầy không còn khả năng.

Thầy và anh bàn nhiều chuyện, trong đó để tiết kiệm tiền bạc, Thầy định làm một lò nung gạch, đào đất trước sân chùa để làm gạch. Cái hố lấy đất sau nầy sẽ trồng sen, trở thành một hồ sen. Thấy những dự tính của Thầy hợp lý, anh cũng vui thích.

Trở lại Mỹ, mỗi đêm anh ngồi trước bàn thờ tụng kinh. Lúc đầu anh không biết tụng kinh như vậy để làm gì, sau vài tháng anh ngộ ra được một điều cái “quả” mà anh nhận được bây giờ, gia đình yên vui, vợ con sẽ đoàn tụ, công việc trôi chảy, chính nhờ vào cái “nhân” mà anh đã gieo. Anh tụng kinh là nhắc nhở mình phải luôn luôn gìn giữ cái tâm ngay thẳng. Anh không nghĩ đến những chuyện cao siêu, chỉ biết đơn giản là tu thân tích đức. Anh cảm thấy tâm hồn anh thanh thản hơn, bỏ ra ngoài những hệ lụy rắc rối không mang tới niềm vui cho mình, cho mọi người. Câu kinh anh tụng trở nên nhiệm màu.

Vợ con anh sau vài năm tới Mỹ theo diện đoàn tụ. Anh có hỏi vợ về ngôi chùa ở Mân Thái.Vợ anh cho biết ngôi chùa đã xây xong, không lớn lắm nhưng khang trang. Thầy có làm một tấm đá gắn trên tường khắc tên những người đóng góp xây dựng nên ngôi chùa như một lời tri ân. Nhiều đêm không ngủ được anh lại nghĩ tới ngôi chùa, nghĩ tới Thầy. Ngôi chùa nhỏ nhưng chứa một tấm lòng quá lớn. Đối với gia đình anh đây cũng là thánh địa, đã cứu giúp anh vượt qua những khó khăn. Trong chiến tranh, chỉ một lần ngẫu nhiên gặp gỡ mà người Thầy đã giác ngộ, đã từ bỏ hết những danh vọng, những quyền thế, xóa sạch những hận thù, những dĩ vãng đen tối. Chấp nhận một cuộc sống thanh bần khổ cực. Mấy ai trên đời nầy làm được như Thầy ? Công đức của Thầy theo anh, đó là một ngọn Thái-sơn mấy ai leo tới. Năm nay Thầy đã bát tuần, như một quyển kinh đã đọc đến những trang gần cuối. Thầy không có gì phải vướng bận khi ra đi, chắc Thầy cũng đã sẵn sàng đi theo Phật. Cuộc đời, mọi vật rồi cũng sẽ trở thành cát bụi, chỉ còn chăng là một tấm lòng. Anh viết thư cho quý đạo hữu hãy báo tin cho anh biết khi Thầy viên tịch, anh sẽ thu xếp về ngay để tiễn đưa Thầy lần cuối./.

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017


ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG thượng ĐỨC hạ CHƠN, THƯỢNG THỦ HỘI ĐỒNG TĂNG GIÀ BẢN THỆ – ÂN SƯ GĐPT VIỆT NAM, VIỆN CHỦ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM



Rate This

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (Ảnh: Quảng Tâm)
Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ (Ảnh: Quảng Tâm) 

Ngưỡng bạch Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa, Chư Đại đức Tăng Ban tổ chức Tang lễ, cùng toàn thể Môn đồ pháp quyến.
Trong giờ phút trang nghiêm long trọng này, thay mặt Chư tôn Thiền đức trong Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ và HĐCVGH GĐPT Việt Nam, xin được dâng lên giác Linh Cố Trưởng lão Hòa thượng đôi dòng Tưởng niệm.
Kính bạch Hòa Thượng!
Người đã đi thật rồi sao!
Mái ngói Quảng Hương còn tinh tươm màu đất cũ
Tường gạch Già Lam vẫn nồng đượm sắc mây xưa
Tiếng bảng phóng tham vừa vọng xuống song thưa
Hồi chuông khấu thỉnh mới lan qua trượng thất
Đèn lưu ly chưa tắt
Trang phạn bối vừa xong
Hơi thở đi ra, hơi thở chưa kịp vào trong.
Chuỗi hạt lần khân, chuỗi hạt đã dừng ngón búp.
Hương Bạch liên sực nức
Mùi Mạt-lỵ lừng thơm
Người an nhiên chánh niệm
Sanh tử sợi lông hồng.
Từ chân như người đến
Chừ đi về cõi Không.
Nhớ giác Linh xưa!
Đất Thừa Thiên chánh quán
Dòng Phạm thị thác thai.
Khi túc duyên hội đủ, theo Thầy thọ pháp xuất gia,
Bổn sư Tông trượng Thiền môn thượng Trí hạ Thủ;
Hạnh hầu Thầy hết mực,
Chí cầu học không nguôi.
Từ Phật học đường Báo Quốc,
Đến Phật học viện Trung phần.
Hầu Thầy, hầu chúng ân cần
Chấp tác công phu tinh tấn
Đến khi giới thể châu viên, nương đức chúng tăng thọ trì Kinh – Luật,
Kịp khi đạo hạnh tròn đầy, vâng mệnh Bổn sư, phụng hành Phật sự.
Sau thời pháp nạn 63, sơn môn trấn tỉnh, hải chúng an hòa, Thầy được cử về trụ trì Quảng Hương Già Lam, cơ sở đào tạo Tăng tài cấp Đại học của Giáo hội. Kế tiếp, tùy duyên hành hóa, hoặc khi Giáo hội bổ nhiệm trụ trì Long Huê Gò Vấp, hoặc khi khai sơn Thị Giáo hội kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN Thị Xã Cam Ranh, hoặc về phụ trách Giám đốc nhà in Hoa Sen, Viện Cao Đẳng Hải Đức, Phật học viện Trung Phần, hỗ trợ phương tiện hoằng dương chánh pháp.
Đến khi đất nước thanh bình, một thời tăng đồ ly tán, phụng mệnh Hòa thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo trở lại trụ trì Quảng Hương Già Lam, trợ duyên Tôn sư đào tạo Tăng tài, kế thừa gia phong Phật chúng. Duyên trần thuận nghịch có khi, mà chí nguyện thủy chung chẳng đổi. Tâm nguyện Bồ đề của Tôn Sư tiếp tăng độ chúng, an lập quy cũ thiền môn, trong sáng giới luật. Tuy vắng bóng Tôn Sư mà giáo huấn Tôn Sư vẫn rạng, do vậy, khi thuận duyên hội đủ khai đàn truyền giới, y luật hành trì, hoặc truyền cụ túc xuất gia, hoặc truyền tại gia Bồ tát, dẫn dắt hậu lai kiên trì mạng mạch chánh pháp, dè chừng lạc lối đảo điên.
Tuy nội tâm đức tính khiêm cung, mà hành sự không thể từ nan, nên vâng mệnh Chư tôn Trưởng lão đảm nhiệm chức năng Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Cư Sỹ, theo khế lý khế cơ mà hướng dẫn tại gia tu hành chánh đạo.
Đương thời quốc gia thịnh trị, xã hội phú cường, theo đà văn minh vật chất, mọi thế hệ thanh thiếu niên có cơ mất hướng. Hòa thượng cùng với Chư tôn đồng phạm hạnh, phát nguyện Bản Thệ Tăng Già, làm nơi quy ngưỡng cho Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, tài bồi tuổi trẻ áo Lam thấm nhuần Phật pháp, tương lai góp phần phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Sóng vỗ ngọn tùng
Mây giăng đỉnh hạc.
Sóng vỗ ngọn tùng, nhớ thuở Tôn sư khai sơn Quảng Hương Già Lam thâu thần thị tịch.
Mây giăng đỉnh hạc, thương ngày đức Hòa Thượng Thượng Thủ BẢN THỆ TĂNG GIÀ quảy dép về Tây.
Tịnh đức Thiền tăng vân tập như mây
Phật tử, tín đồ quang lâm như nước.
Tưởng niệm Hòa Thượng:
Làm sứ giả Như Lai, ba cõi thong dong, thả bước tiêu dao cùng pháp giới.
Mang hành trang Chư Tổ, một đời tự tại, trải lòng phụng sự khắp quần sanh.
Đến tợ vầng trăng, theo nước trăm sông về biển cả
Đi như cánh hạc, cùng mây vạn núi hướng trời cao.
Nay, Chư Tăng già Bản Thệ, HĐCVGH GĐPT VN, thành kính đảnh lễ tưởng niệm công đức Hòa thượng, Ngưỡng Nguyện Giác Linh Cao đăng Phật quốc, hội nhập Ta bà, duy trì BẢN THỆ TĂNG GIÀ làm chỗ quy hướng cho tất cả đồ chúng hữu duyên.
Xin nghiêng mình bái biệt Hòa Thượng.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (Ảnh: Quảng Tâm) 

Ngưỡng bạch Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa, Chư Đại đức Tăng Ban tổ chức Tang lễ, cùng toàn thể Môn đồ pháp quyến.
Trong giờ phút trang nghiêm long trọng này, thay mặt Chư tôn Thiền đức trong Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ và HĐCVGH GĐPT Việt Nam, xin được dâng lên giác Linh Cố Trưởng lão Hòa thượng đôi dòng Tưởng niệm.
Kính bạch Hòa Thượng!
Người đã đi thật rồi sao!
Mái ngói Quảng Hương còn tinh tươm màu đất cũ
Tường gạch Già Lam vẫn nồng đượm sắc mây xưa
Tiếng bảng phóng tham vừa vọng xuống song thưa
Hồi chuông khấu thỉnh mới lan qua trượng thất
Đèn lưu ly chưa tắt
Trang phạn bối vừa xong
Hơi thở đi ra, hơi thở chưa kịp vào trong.
Chuỗi hạt lần khân, chuỗi hạt đã dừng ngón búp.
Hương Bạch liên sực nức
Mùi Mạt-lỵ lừng thơm
Người an nhiên chánh niệm
Sanh tử sợi lông hồng.
Từ chân như người đến
Chừ đi về cõi Không.
Nhớ giác Linh xưa!
Đất Thừa Thiên chánh quán
Dòng Phạm thị thác thai.
Khi túc duyên hội đủ, theo Thầy thọ pháp xuất gia,
Bổn sư Tông trượng Thiền môn thượng Trí hạ Thủ;
Hạnh hầu Thầy hết mực,
Chí cầu học không nguôi.
Từ Phật học đường Báo Quốc,
Đến Phật học viện Trung phần.
Hầu Thầy, hầu chúng ân cần
Chấp tác công phu tinh tấn
Đến khi giới thể châu viên, nương đức chúng tăng thọ trì Kinh – Luật,
Kịp khi đạo hạnh tròn đầy, vâng mệnh Bổn sư, phụng hành Phật sự.
Sau thời pháp nạn 63, sơn môn trấn tỉnh, hải chúng an hòa, Thầy được cử về trụ trì Quảng Hương Già Lam, cơ sở đào tạo Tăng tài cấp Đại học của Giáo hội. Kế tiếp, tùy duyên hành hóa, hoặc khi Giáo hội bổ nhiệm trụ trì Long Huê Gò Vấp, hoặc khi khai sơn Thị Giáo hội kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN Thị Xã Cam Ranh, hoặc về phụ trách Giám đốc nhà in Hoa Sen, Viện Cao Đẳng Hải Đức, Phật học viện Trung Phần, hỗ trợ phương tiện hoằng dương chánh pháp.
Đến khi đất nước thanh bình, một thời tăng đồ ly tán, phụng mệnh Hòa thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo trở lại trụ trì Quảng Hương Già Lam, trợ duyên Tôn sư đào tạo Tăng tài, kế thừa gia phong Phật chúng. Duyên trần thuận nghịch có khi, mà chí nguyện thủy chung chẳng đổi. Tâm nguyện Bồ đề của Tôn Sư tiếp tăng độ chúng, an lập quy cũ thiền môn, trong sáng giới luật. Tuy vắng bóng Tôn Sư mà giáo huấn Tôn Sư vẫn rạng, do vậy, khi thuận duyên hội đủ khai đàn truyền giới, y luật hành trì, hoặc truyền cụ túc xuất gia, hoặc truyền tại gia Bồ tát, dẫn dắt hậu lai kiên trì mạng mạch chánh pháp, dè chừng lạc lối đảo điên.
Tuy nội tâm đức tính khiêm cung, mà hành sự không thể từ nan, nên vâng mệnh Chư tôn Trưởng lão đảm nhiệm chức năng Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Cư Sỹ, theo khế lý khế cơ mà hướng dẫn tại gia tu hành chánh đạo.
Đương thời quốc gia thịnh trị, xã hội phú cường, theo đà văn minh vật chất, mọi thế hệ thanh thiếu niên có cơ mất hướng. Hòa thượng cùng với Chư tôn đồng phạm hạnh, phát nguyện Bản Thệ Tăng Già, làm nơi quy ngưỡng cho Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, tài bồi tuổi trẻ áo Lam thấm nhuần Phật pháp, tương lai góp phần phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Sóng vỗ ngọn tùng
Mây giăng đỉnh hạc.
Sóng vỗ ngọn tùng, nhớ thuở Tôn sư khai sơn Quảng Hương Già Lam thâu thần thị tịch.
Mây giăng đỉnh hạc, thương ngày đức Hòa Thượng Thượng Thủ BẢN THỆ TĂNG GIÀ quảy dép về Tây.
Tịnh đức Thiền tăng vân tập như mây
Phật tử, tín đồ quang lâm như nước.
Tưởng niệm Hòa Thượng:
Làm sứ giả Như Lai, ba cõi thong dong, thả bước tiêu dao cùng pháp giới.
Mang hành trang Chư Tổ, một đời tự tại, trải lòng phụng sự khắp quần sanh.
Đến tợ vầng trăng, theo nước trăm sông về biển cả
Đi như cánh hạc, cùng mây vạn núi hướng trời cao.
Nay, Chư Tăng già Bản Thệ, HĐCVGH GĐPT VN, thành kính đảnh lễ tưởng niệm công đức Hòa thượng, Ngưỡng Nguyện Giác Linh Cao đăng Phật quốc, hội nhập Ta bà, duy trì BẢN THỆ TĂNG GIÀ làm chỗ quy hướng cho tất cả đồ chúng hữu duyên.
Xin nghiêng mình bái biệt Hòa Thượng.

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2017

Bác sĩ Nhật Bản khuyên: Xin đừng điều trị nếu bị ung thư!

Bác sĩ Nhật Bản khuyên: Xin đừng điều trị nếu bị ung thư!

Thật khó tin nếu có một bác sĩ nói với bạn rằng đừng có điều trị nếu bị ung thư ! Nhưng đây lại là bác sĩ được mệnh danh “Lương tâm của giới y học” của Nhật Bản.
Ảnh:Internet
Thật khó tin nếu có một bác sĩ nói với bạn rằng đừng có điều trị nếu bị ung thư ! Nhưng đây lại là bác sĩ được mệnh danh “Lương tâm của giới y học” của Nhật Bản.
Makoto Kondo, 65 tuổi, là bác sĩ xạ trị bệnh viện đại học Keio, với 40 năm điều trị ung thư, ông đã rất can đảm để bày tỏ những ý kiến về sức khỏe có liên quan đến cá nhân và cộng đồng mà mọi người không tiện nói, được người dân Nhật yêu mến gọi bằng cái tên “Lương tâm của giới y học”
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề y, bác sĩ Kondo tốt nghiệp đại học Keio, sau đó sang Mỹ du học, và lấy bằng tiến sĩ tại đây.

Sau khi về nước ông vào làm giảng viên tại đại học Keio, chuyên về điều trị xạ trị cho bệnh nhân ung thư, cũng là người nổi tiếng tiên phong về liệu pháp điều trị bảo tồn vú nổi tiếng trên Nhật Bản. Những thành tựu cống hiến của ông được toàn thể xã hội đánh giá cao, năm 2012 ông giành được giải thưởng “Kikuchi Kan lần thứ 60”( giải thưởng cho các giới nhân sĩ có đóng góp to lớn cho nền văn hóa Nhật Bản).Tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất nói về các cảnh báo về y tế như “ ung thư đừng vội phẫu thuật”, “ Bệnh nhân ơi, không nên đấu tranh với ung thư”, “ liệu pháp tự bỏ mặc phát triển trong điều trị ung thư”…
Makoto thực sự được các phương tiện thông tin đại chúng biết đến vào năm 1988, khi ông có bài viết “ Không cần cắt bỏ ung thư vú mà tự khỏi” được đăng trên tạp trí “ văn nghệ Xuân Thu” của Nhật Bản. Bởi bài viết này trái ngược hoàn toàn so với nhận thức của đại đa số dân chúng, nên rất thu hút sự chú ý của người đọc, do đó có ảnh hưởng rất lớn.
Tuy nhiên, bởi bài viết của ông đi ngược lại với những nguyên tắc thông thường chính quy trong giới y học, nên từ năm 1988, ông Kondo vĩnh viễn không được thăng chức tại trường đại học Keio. Đối với vấn đề điều trị ung thư, trong cuốn sách mới của mình, ông Kondo có những cách nhìn nhận khác nhau.

ĐIỀU ĐÁNG SỢ KHÔNG PHẢI LÀ UNG THƯ, MÀ LÀ “ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ”.
Tại sao có môt số người ban đầu tinh thần rất tốt, sau khi bị ung thư lại sống không được bao lâu? Đó là bởi vì họ tiếp nhận “ cách điều trị ung thư”.
Chỉ cần “không điều trị” ung thư, bệnh nhân có thể giữ cho mình được trạng thái tinh thần tỉnh táo, cho đến thời khắc cuối cùng của cuộc đời. Chỉ cần có phương pháp điều trị đúng, cơ thể cũng có thể hoạt động tự do bình thường. Có rất nhiều trường hợp ung thư không có đau đớn. Các cơn đau đớn thật sự có thể khống chế được.
Nếu bạn không xuất hiện các triệu chứng như đau đớn, khó chịu, không ăn được…, lại bị phát hiện có ung thư khi khám sức khỏe, như vậy “ khối u” đó nhất định là “ u lành tính”. Chỉ dựa vào phim X quang có thể kiểm tra ra ung thư vú có đến 99% là u lành tính, nhưng đại đa số các bệnh nhân vẫn tiến hàn phẫu thuật cắt bỏ vú, xin mọi người hãy cẩn thận điều này.

UNG THƯ THẬT SỰ PHÁT HIỆN DÙ SỚM ĐI NỮA CŨNG KHÔNG CÓ TÁC DỤNG
Tế bào ung thư gốc khai sinh tại thời điểm đầu tiên, thời gian sống của người bệnh đã được xác định, khi bệnh được phát hiện sớm khiến thời gian sống thêm có vẻ lâu hơn. Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cần phải quan sát xem “tỷ lệ sống của bệnh nhân ung thư có được 10 năm không”, mới có thể phán đoán được rốt cuộc một bệnh nhân có được “điều trị khỏi“ không.

PHẪU THUẬT LÀ TỔN THƯƠNG NGHIÊM TRỌNG DO CON NGƯỜI TẠO RA
Sau khi phẫu thuật xong, thể lực sẽ giảm xuống, cơ thể sẽ rất dễ bị nhiễm trùng, và còn có thể mang lại những di chứng suốt đời không thể điều trị khỏi, chết trên bàn phẫu thuật cũng là chuyện thường có trong điều trị ung thư. Nếu bác sĩ khuyên bạn làm phẫu thuật, vậy tốt nhất bạn nên suy nghĩ thật kỹ lưỡng, sau khi làm phẫu thuật xong thì sẽ như thế nào.Chú ý rằng việc phẫu thuật rất có thể càng kích thích tế bào ung thư. Trong giới y học có một cách nói hình tượng: “ Một khi động dao phẫu thuật, tế bào ung thư sẽ bùng phát như một trận bão lửa, bùng nổ mạnh như mìn vậy.” Bởi phẫu thuật sẽ để lại vết thương, miệng vết thương sẽ phá vỡ ranh giới của các tế bào bình thường, các tế bào ung thư trong máu sẽ nhân cơ hội lan rộng, nhanh chóng thâm nhập vào các mô lành mạnh xung quanh, cuối cùng bùng phát nặng hơn.

ĐỘC HẠI CỦA HÓA TRỊ LIỆU
Người bị ung thư ở độ tuổi trưởng thành có thể dùng hóa trị liệu điều trị khỏi, đó là 4 loại ung thư sau, bệnh bạch cầu cấp, u lympho ác tính, ung thư tinh hoàn, ung thư biểu mô màng đệm tử cung, mà những loại ung thư này chỉ chiếm khoảng 10% tổng số tất cả các loại bệnh ung thư.
Hóa trị liệu có thể kéo dài được mạng sống của bệnh nhân hay không vẫn là một vấn đề cần phải đợi chứng minh, nhưng các loại thuốc dùng để hóa trị có độc tính rất mạnh, có thể mang lại những tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuổi càng cao, thời gian hút thuốc lá càng nhiều, độc tính của phương pháp hóa trị liệu càng biểu hiện rõ ràng hơn. Có 5.9% bệnh ung thư, dù có điều trị hay không, thời gian sống đều như nhau.
Bất kể nền y học có phát triển đến như thế nào, ung thư ác tính đều không thể dựa vào sức người mà có thể điều trị khỏi được. Những câu chuyện cảm động lòng người đại loại như “ung thư biến mất” “ sống sót một cách kỳ diệu” đại đa số đều có liên quan tới u lành tính. U lành tính cũng giống như một cái mụn ở trên mặt, không cần quan tâm đến nó, tự nó sẽ biến mất, nhưng các bác sĩ lại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên bố rộng rãi rằng “ Chúng tôi đã điều trị khỏi bệnh ung thư”.

HÃY CÙNG CHỜ XEM NHỮNG THAY ĐỔI TỐT HƠN
Cho dù bác sĩ có xác định bạn bị ung thư, nếu bạn cảm thấy đau khổ, vậy hãy cùng chờ xem những chuyển biến tốt hơn của bệnh. Nếu như bạn muốn điều trị, vậy hãy kiểm tra thật kỹ, xem liệu những chẩn đoán của bác sĩ có chính xác không.
Phẫu thuật thành công không phải điều trị khỏi ung thư.
Cho dù cuộc phẫu thuật có thành công mỹ mãn, không có bất kỳ sai sót nào, thì tế bào ung thư chắc chắn cũng nhất định sẽ tái phát lại vào một thời điểm nào đó.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CÀNG “TIÊN TIẾN”, CÀNG CẦN PHẢI CẨN THẬN
Có rất nhiều kỹ thuật điều trị ung thư vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm đã được mang ra áp dụng điều trị, chỉ cần khoác lên nó hai chữ “ tiên tiến” là bệnh nhân bị dắt mũi đến để thử nghiệm. Tóm lại, mọi người nên cẩn thận hơn với các phương pháp điều trị mang hai từ “ tiên tiến” bên mình.
Phương pháp chụp X quang toàn thân 360°- chụp cắt lớp Lượng bức xạ của 1 lần chụp CT tương đương với 200 -300 lần chụp X quang thông thường! Lượng sóng bức xạ của 1 lần kiểm tra CT có thể dẫn tới ung thư.

TĂNG CƯỜNG HỆ MIỄN DỊCH CÓ HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ HAY KHÔNG?
Tăng cường hệ miễn dịch không có ích trong việc phòng và điều trị ung thư, thậm trí có thể nói là hoàn toàn không hiệu quả. Tại sao lại như vây? Bởi chức năng của những tế bào miễn dịch là tấn công các yếu tố bất thường từ bên ngoài thâm nhập vào cơ thể, nhưng tế bào ung thư là tế bào đột biến hình thành từ trong cơ thể, nên đối với hệ miễn dịch của con người tế bào ung thư không phải là kẻ thù. Tế bào ung thư có thể phát triển lên tới đường kính 1 cm, có thể vì vậy được phát hiện khi kiểm tra, tất cả đều là vì tế bào miễn dịch NK không coi tế bào ung thư là kẻ thù, đây là bằng chứng không thể chối cái việc hệ thống miễn dịch không thể tiêu diệt các tế bào ung thư. Vậy chúng ta phải làm như thế nào? Hãy quên ung thư đi, đừng làm phẫu thuật, cũng đừng làm xạ trị, càng không nên làm hóa trị liệu.
Đợi khi cơ thể bắt đầu khó chịu, hãy nghĩ cách để làm giảm những cơn đau đớn đó là được. Như vậy sau đó, bạn mới có thể kéo dài sinh mệnh của mình trong trạng thái thoải mái nhẹ nhàng nhất. Nếu bác sĩ không nói rõ ràng, thì cũng không nên hỏi, bởi vì không ai có thể biết rốt cuộc bạn sống được bao lâu.
Bất kể bệnh nhân bị ung thư hay bị bị các bệnh khác, đều đi khám và điều trị theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Nhưng bệnh nhân cũng không cần giao toàn bộ quyền quyết định sử phương pháp điều trị nào cho bác sĩ, bác sĩ cũng không có tư cách áp đặt với bệnh nhân.

CHÚNG TA CÓ THỂ HỌC THEO NHỮNG HÒN ĐÁ KHÔNG NGỪNG LĂN KIA
Những hòn đá lăn liên tục đó sẽ không bị mọc rêu.

Chỉ có vận động cơ thể nhiều hơn, não bộ hoạt động nhiều hơn, cơ thể mới không bị rỉ sét. Hãy để cảm xúc trở nên phong phú hơn mỗi ngày, mỗi ngày đều để những cảm xúc vui vẻ đến với mình, “ Năm giác quan” của chúng ta (thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác) mới không trở nên buồn chán.

Hãy tránh xa những điều mang lại cho bạn sự khó chịu, trân trọng những niềm vui của cuộc sống. Tập các bài tập thể dục chân tay một cách đúng mực, hoạt ngôn, sử dụng não bộ nhiều hơn, để giữ sự linh hoạt của cảm xúc và giác quan.

Thường xuyên đi bộ, máu mới có thể vận chuyển lưu thông toàn thân, mới không bị tích tụ ở nửa thân dưới, huyết áp mới có thể ổn định.

Hãy cười to, có thể hỗ trợ giúp vận động cơ quan biểu hiện cảm xúc và cơ hoành, hô hấp sẽ sâu hơn, tuần hoàn máu sẽ tốt hơn, giúp cơ thể trở nên nóng hơn.

Ăn nhiều những món ăn ngon, làm nhiều những việc mình thích, để tâm trạng trở nên hân hoan vui vẻ, để cơ thể tiết ra nhiều serotonin, dopamine, endorphin, giúp tâm trạng trở nên vui vẻ hơn, theo cách này bạn sẽ thấy cuộc sống thật vui vẻ hạnh phúc.

Kinh nghiệm cho tôi biết, chỉ cần trong lòng vui vẻ, sẽ quên đi những điều nhỏ nhặt, ung thư cũng không bùng phát. “Không trầm cảm” mới là phương pháp giữ gìn sức khỏe theo cơ chế tự nhiên, vĩ đại nhất.

Trong một loạt các cuốn sách của Makoto Kondo đều chủ trương, nếu bạn không may bị mắc bệnh ung thư, không nên điều trị, hãy để nó phát triển tự nhiên, điều trị ung thư không những không có ích, mà chỉ mang lại nhiều đau đớn hơn, bị dày vò nhiều hơn. Tóm lại, điều bác sĩ Kondo muốn nhắc nhở chúng ta đó là:

Các phương pháp chẩn đoán sàng lọc và điều trị bệnh ung thư hiện nay, nếu xuất phát từ góc độ hỗ trợ giúp nâng cao khả năng sinh tồn thay vì khả năng tiêu diệt tế bào ung thư, thì hầu như đều không có hiệu quả rõ ràng. Phương pháp tốt nhất hiện nay, đó là hãy giữ thói quen sinh hoạt tốt và giữ cho tâm trạng luôn được vui vẻ thoải mái.

KÊT LUẬN
Từ cách nhìn nhận của bác sĩ Kondo, chúng ta thấy một điểm tương đồng với quan điểm trị bệnh của y học cổ truyền Trung Hoa, rằng bệnh tại tâm sinh. Ngày xưa thời Hoàng Đế, con người rất coi trọng tu dưỡng đạo đức, nhiều trong số họ là những người tu luyện theo các trường phái Phật gia và Đạo gia, có đạo đức phẩm hạnh, sức khỏe tốt mà không cần dùng thuốc.
Theo baocuatoi

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

THÔNG BÁO & THIỆP MỜI Tham Dự Buổi Tiệc Chay Gây Quỹ Tu Sửa Tu Viện Hộ Pháp




THÔNG BÁO & THIỆP MỜI Tham Dự Buổi Tiệc Chay Gây Quỹ Tu Sửa Tu Viện Hộ Pháp - El Monte

Tu Viện Hộ Pháp sẽ tổ chức buổi tiệc chay gây quỹ tu sửa Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp

vào lúc 6:00 P.M. Saturday Ngày 9 Tháng 12 Năm 2017
Tại Nhà HàngMoonlight 15440 Beach Blvd., #118, Westminster, CA 92683
(góc đường McFadden Ave., Trong khu chợ Thuận Phát) - Phone: (949) 397-4424

Trân Trọng Kính Mời Quý Phật Tử và Gia Đình dành chút thời gian về tham dự ủng hộ góp phần công đức trong buổi tiệc chay tu sửa Đạo Tràng Tu Viện Hộ Pháp, mái chùa tâm linh nơi nương tựa tinh thần của các Phật tử Việt Nam xa quê hương tại Tp El Monte.

Quý vị hãy đến tham dự để thưởng thức những Món ăn chay thơm ngon bổ dưỡng do các đầu bếp chuyên nghiệp của nhà hàng đảm trách.

Mc. Xướng ngôn viên truyền hình Vy Lan & Mc Quí Luân sẽ điều khiển các chương trình rất thú vị có nhiều giải thưởng giá trị, cũng như chương trình văn nghệ đặc sắc với nhiều ca nhạc sĩ như: Mc Ca sĩ Thuý Anh & Mã Đức Khang, ca nhạc sĩ Thanh Phương & Thuý Diễm, ca sĩ Huệ Thy, Mc Ca sĩ Đào Anh Tuấn, Xướng ngôn viên Ca sĩ Ngô Khải Anh, và ban nhạc Starlights.

Vé ủng hộ vào tiệc $30/người. Mọi chi tiết đặt vé hoặc bảo trợ xin quí vị hoan hỉ liên lạc số điện thoại Tu Viện Hộ Pháp: (626) 377-1103 & (949) 397-4424.

Chân thành tri ân và trân trọng kính mời.
Tu Viện Hộ Pháp


Lưu ý: Buổi tiệc khai mạc đúng giờ, quí khách hoan hỉ đến đúng giờ để được chỗ ngồi như ý.

Tu Viện Hộ Pháp Monastery - El Monte, Los Angeles needs your supports, sponsor tables, sponsor gifts, and your attendance.
We are asking friends and family to consider sponsoring us for this event.
For your sponsor donation you can help Ho Phap Monastery to re-construction for weekly Buddhist activities safety.

Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát.


Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

THƯ GỬI TĂNG SINH THỪA THIÊN HUẾ

THƯ GỬI TĂNG SINH THỪA THIÊN HUẾ


Kính thưa quí thiện hữu tri thức,
Quý huynh đệ,
Lá thư tâm tình của Ôn Tuệ Sỹ viết gửi cho tăng sinh Thừa Thiên - Huế đã hơn 13 năm qua, nhưng những ngôn từ thống thiết từ đáy lòng của Ôn - một người anh của thế hệ trước muốn được trao gửi cho những đàn em - thế hệ kế thừa, như vẫn còn đồng vọng trong tâm thức của cá nhân chúng tôi.  Dù lá thư đó Ôn chỉ viết riêng cho các Tăng Sinh Thừa Thiên Huế trong thời điểm ấy, nhưng khi đọc, ta có cảm nhận rằng, không phải Ôn chỉ tâm sự riêng với Các Tăng Sinh Thừa Thiên Huế mà dường như muốn gửi trọn tấm lòng của Ôn đến tất cả tăng ni trong và ngoài nước. Tự cảm nghĩ như thế nên mình cũng được dự phần.
Nhân dịp đầu năm 2017, con xin phép được đăng lại bức thư này của Ôn như để tự sách tấn, đồng thời xin được thành kính gửi về Ôn lời vấn an sức khỏe và thưa với Ôn rằng, chúng con - "những đứa học trò của Ôn", sẽ luôn  tạc dạ ghi lòng những lời Ôn dạy.

Quảng Hương Già Lam
Ngày 28-10-2003

Các con thương quý,
Trong những ngày gần đây những biến động tuy làm sửng sốt cả thế giới nhưng hầu như chỉ làm gợn sóng một ít nơi đây để giữ yên cho giấc ngủ đông miên kéo dài qua hai thập kỷ của Phật tử Việt Nam.

Trong không khí được bao trùm bởi trạng thái ứ đọng của vũng nước ao tù, bị cắt đứt với mạch nguồn quá khứ, bị che chắn khuất tầm nhìn tương lai; trong không khí đó, tâm tư ước nguyện của thế hệ non trẻ, của thế hệ tăng ni sinh mới lớn, như được bộc lộ trong những ngày vừa qua, từ Bình Định cho đến Thừa Thiên – Huế, là dấu hiệu của nguồn mạch ngầm vẫn luân lưu bất tuyệt trong dòng lịch sử truyền thừa của Phật Giáo Việt Nam. So với khối lượng tăng ni sinh trong cả nước, các con chỉ là một nhóm nhỏ. Ít, nhưng đấy là những hạt lúa chắc. Nhiều, nhưng chỉ là vỏ trấu, và là những hạt chưa được ủ mầm đã mục ruỗng bên trong.

Các con hãy tự hào, với niềm tự hào trong trắng và vô tư của tuổi trẻ, từ thời điểm cột mốc này, đã một lần và mãi mãi đứng thẳng trên đôi chân của chính mình, bằng đôi mắt trí tuệ và hùng lực mà nhìn thẳng mà không khiếp sợ vào quyền lực xấu ác của thế gian, tự định hướng đi cho bản thân để làm những việc cần làm cho chính mình và cho mọi người.
Thế hệ của Thầy, những thanh niên trang lứa được nuôi dưỡng để đưa vào chiến trường của cuộc chiến tranh ý thức hệ, được giáo dục để biết hận thù giai cấp. Nhưng may thay, dòng suối Từ vẫn âm thầm tuôn chảy, để xoa dịu những đau thương mất mát; để hàn gắn những đổ vỡ điêu tàn của dân tộc.

Các con lớn lên trong thời đại thanh bình, nhưng các con lại bị ném vào giữa một xã hội mất hướng. Quê hương và đạo pháp, là những mỹ từ thân thương nhưng đã trở thành sáo rỗng. Các bậc cao tăng thạc đức, một thời đã đánh thức lương tâm nhân loại trước cuộc chiến hung tàn, đã giữ vững con thuyền đạo pháp trong lòng dân tộc, nay chỉ còn lại bóng mờ và quên lãng.

Thế hệ các con được giáo dục để quên đi quá khứ. Nhiều người trong các con không biết đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là gì; đã làm gì và cống hiến những gì cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục, hòa bình dân tộc, trong những giai đoạn hiểm nghèo của lịch sử dân tộc và đạo pháp của đất nước -Một quá khứ chỉ mới như ngày hôm qua, di sản vẫn còn đó nhưng đã bị chối bỏ một cách vội vàng - Di sản được tích lũy ròng rã hằng thế kỷ, bằng bao tâm tư khổ lụy đau thương bằng máu và nước mắt của biết bao Tăng Ni, Phật tử; mà những người gây dựng nên di sản đó bằng bi nguyện và hùng lực của mình, có vị bị bức tử bởi bạo quyền, có vị suốt năm tháng dài chịu tù đày, bị lăng nhục. Nhưng sống hay chết, vinh hay nhục, không làm dao động tâm tư của những ai biết sống và chết xứng đáng với phẩm cách con người, không hổ thẹn với phẩm hạnh cao quý của bậc xuất gia.

Người xuất gia, khi cất bước ra đi, là hướng đến phương trời cao rộng, tâm tính và hình hài không theo thế tục, không buông mình chìu theo mọi giá trị hư dối của thế gian, không cúi đầu khuất phục trước mọi cường quyền bạo lực. Một chút phù danh, một chút lợi thế, một chút an nhàn tự tại; đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm thường và giả ngụy, mà ngay cả người đời nhiều kẻ còn vất bỏ không tiếc nuối để giữ tròn danh tiết. Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực tế chỉ ôm giữ Chùa Tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, làm nơi hội tụ của cặn bã xã hội. Chớ hô hào truyền pháp giảng kinh, thực chất là mượn lời Phật để xu nịnh vua quan, cầu xin một chút ân huệ dư thừa của thế tục, mua danh bán tước. Xưa kia, khi vua chúa bắt sư tăng cúi đầu nhận tước lộc của triều đình để làm tôi tớ cho vương hầu, chư Tổ đã sẵn sàng đặt đầu mình trước gươm bén, giữ vững khí tiết của người xuất gia, bước theo dấu chân vô úy, vô cầu, của các Thánh Đệ tử, được gói gọn trong thanh quy: “Sa Môn bất kỉnh vương giả”.

Nhẫn nhịn đời nhưng không để cho quyền lực đen tối của đời sai sử. Tùy thuận thế gian, nhưng không tự đánh chìm trong vòng xoáy ô trược của thế gian. Các con hãy tự rèn luyện cho mình một tín tâm bất hoại; một đức tính dũng mãnh vô úy; nỗ lực tự huân tập trí tuệ bằng văn, tư, tu để nhìn rõ sự tướng chân ngụy, để thấy và biết rõ mình đang ở đâu, đang đi về đâu; không nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy bên ngoài nhưng rệu rã bên trong, đang lao xuống dốc dài không định hướng.

Mỗi thế hệ có vấn đề riêng của nó, do những biến thiên của xã hội chung quanh, do những biến cố dao động mang tính thời đại. Thế hệ của Thầy thừa hưởng được nhiều từ Thầy Tổ, nhưng chưa hề báo đáp ân đức giáo dưỡng cao dày trong muôn một. Chỉ mới tròn ba mươi tuổi, đã phải khép cổng chùa, xách cuốc lên rừng, xuống biển, cũng mưu sinh lao nhọc như mọi người. Rồi lại vào tù, ra khám lênh đênh theo vận nước thăng trầm. Sở học và sơ tri cũng cùn mòn theo tuổi đời, năm tháng. Duy, chưa có điều gì thất tiết để điếm nhục tông môn, uổng công Sư trưởng tài bồi. Một chút niềm tin chưa hề thoái thất, chỉ mong cùng chia sẻ với thế hệ kế thừa. Một thế hệ đang trưởng thành để khơi tỏ ngọn đèn Chánh pháp giữa một đất nước thấm nhuần phong hóa.

Cầu mong các con có đủ dũng mãnh để đi bằng đôi chân của mình, nhìn bằng đôi mắt của mình; tự xác định hướng đi cho chính mình. Thầy sẽ là người bạn đồng hành với các con trên đoạn đường bóng xế của đời mình.
Thầy,
Tuệ Sỹ
(Ấn ký)