Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

MẬT TÔNG TÂY TẠNG: Lễ Hỏa Tịnh - Jinsik- Fire Puja

Lễ Hỏa Tịnh

(Jinsik- Fire Puja)



Mở đầu


Hiện giờ, do các nhân duyên thù thắng nên mối liên hệ giữa cộng đồng Phật tử Việt Nam hải ngoại và nền Phật giáo Mật tông Tây Tạng ngày càng phát triển, chúng ta nhận thấy giáo pháp Mật tông đã được truyền bá rộng rãi. Ðiều này cũng là nhờ ân điển và lòng đại từ bi của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã cho phép chư tăng tiếp xúc với hải ngoại, vì thế Phật tử Việt Nam chúng ta, vốn được may mắn thấm nhuần nền Phật giáo rất sâu đậm hằng ngàn năm, đã hấp thụ nhanh chóng chánh pháp đại thừa của các dòng truyền thừa tinh túy Tây Tạng.

Tuy nhiên, chánh pháp của chư Phật vốn dĩ thâm sâu vô bờ bến, nếu không có lòng hâm mộ các truyền thừa tinh túy này một cách mạnh mẽ, và nhất là nếu không có sự trải rộng tâm thức của mình để xin học hỏi, văn tư và tu, thì có lẽ chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội ngàn năm để hấp thụ nền Phật giáo tinh túy ấy.

Do duyên may đặc biệt, chúng tôi đã được theo hầu chư tăng Tây Tạng trong các chuyến đi hoằng hoá của chư vị. Chuyến hoằng hoá của chư tăng viện Tashi Gephel, trực thuộc Tu Viện Ganden Shartse, do sư trưởng Geshe Lobsang Chophel hướng dẫn đã để lại trong lòng chư Phật tử hải ngoại tại Bắc Mỹ (Gia Nã Ðại và Hoa Kỳ) những linh cảm sâu sắc qua các buổi lễ mà chư tăng ban cho. Một trong những buổi lễ nhiệm mầu đó là Lễ Hoả Tịnh, từ ngữ Tây Tạng gọi là Jinsik, và dịch qua Anh ngữ là Fire Puja.

Do yêu cầu của chư Phật tử nhiều nơi, chúng tôi xin cố gắng tóm tắt ý nghĩa và cách thức tạo buổi lễ này, với hy vọng nhỏ trước tiên là giúp chư Phật tử mọi nơi hiểu được một phần ý nghĩa của buổi lễ, thọ hưởng phúc lạc vô lượng khi dự lễ, và sau là giúp chư vị trong ban tổ chức các phái đoàn có thể phụ tá chư tăng trong phần thực hiện một buổi lễ Hỏa Tịnh. Vì nghi lễ cần nhiều vật liệu đặc biệt mà chư tăng không thể mang theo khi đi hoằng pháp, chư tăng chắc chắn sẽ phải trông cậy vào sự phụ trợ của chư Phật tử địa phương.

Bài viết này được thực hiện với lòng thành tâm của tác giả. Mặc dù kém cỏi si mê, nhưng vẫn cố gắng chia xẻ sự hiểu biết giới hạn này đến mọi người, thế nên bài viết chắc chắn không thể không thiếu sót, do đó, xin nguyện, đệ tử xin sám hối trước chư vị trụ trong Công Ðức Ðiền, và cũng như xin quý đạo hữu niệm tình tha lỗi.

Ðịnh nghĩa từ Hoả Tịnh

Ở trong từ ngữ Tây Tạng, từ jin-sik bao gồm hai chữ : jin nghĩa là cúng dường và sik nghĩa là đốt cháy. Như vậy jinsik thuần nghĩa là cúng dường bằng một nghi lễ lửa. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua ý nghĩa chính, tuy không nằm trong từ ngữ, đó là mục đích cúng dường này vốn để xin tiêu trừ các ác nghiệp và chướng ngại trên con đường tu tập hành trì. Ác nghiệp và chướng ngại có thể đến qua nhiều phía : hoặc là do sự phạm giới, nguyện, phạm tội, hoặc là do các ngoại lực xâm phạm đến thân tâm của chúng ta. Dù những ác nghiệp, chướng ngại đó đã được tích lũy từ vô thỉ kiếp, lễ hoả tịnh vẫn có được công năng tiêu trừ. Ðó là nhờ thần lực của mạn đà la và chư Phật qua lễ cúng dường lửa để tịnh hoá các nghiệp chướng ấy.

Vì thế, Jinsik được dịch là Lễ Hoả Tịnh. Thông thường, sau một kỳ nhập thất, hành giả cần phải hành lễ Hỏa Tịnh.


Các loại lễ Hoả Tịnh

(Phần giải thích lễ Hoả Tịnh này có những chi tiết liên hệ đến những nghi thức dành cho các vị hành giả Mật tông đã thọ quy y và các lễ quán đảnh cho phép hành trì Mật tông. Lễ Hoả Tịnh cho người chưa thọ có thể được đơn giản hoá và ngắn hơn. Tuy nhiên, phần sau đây cũng cho người đọc một khái niệm lễ Hoả Tịnh nói chung như thế nào).

Trước khi đi vào chi tiết của nghi lễ, hãy nhắc lại là khi hành giả đi vào con đường hành trì Mật Tông, thệ nguyện sẽ hoàn mãn công hạnh tạo phúc lạc đến mọi chúng sinh hữu tình. Để hoàn mãn tâm nguyện này, hành giả cần phải phát nguyện đạt đến giác ngộ, và trên đoạn đường bắt đầu đi vào Mật Tông để đạt mục đích, hành giả phải chọn tu theo một (hay vài) vị Hộ Phật (nghĩa là vị Phật của mật pháp mình tu tập thiền quán và thủ hộ nơi tim), trì chú của chư vị Hộ Phật và hành trì lễ Hỏa Tịnh.

Khi hành trì lễ Hỏa Tịnh, hành giả làm chư vị phát lòng hoan hỷ, và chư vị giúp cho hành giả đạt đến thành tựu các nguyện hạnh trên con đường đạo. Hành lễ Hỏa Tịnh cũng còn có công năng tiêu trừ những tội lỗi hay ác nghiệp đã phạm, hay là tịnh hoá các lỗi lầm khi hành giả do si mê ngu muội chưa hiểu rõ mà phạm lỗi hành trì sai, và ngay cả khi hành giả quên không tụng đủ các câu chú như đã hứa nguyện, cũng như là tiêu trừ các chướng ngại ngăn che không cho hành giả đạt vào trong cõi thiền, an hòa kiên cố tâm của mình trong định.

Lễ Hỏa Tịnh được phân làm bốn loại nghi lễ như sau :

* An Hòa
* Tăng Trưởng
* Hàng Phục
* Tống Khứ

Nghi lễ Hỏa Tịnh An Hòa thường được hành trì để tịnh hóa những nghiệp bất thiện đã gây ra, hoặc là để xua đi các chướng ngại và các cấu uế (như tham sân si). Nghi lễ An Hòa cũng dùng để chặn trước các vấn đề và các bệnh tật sắp xảy ra và đã có điềm triệu trước như là nằm mộng hoặc do các điềm xấu báo trước.

Nghi lễ Hỏa Tịnh thuộc loại An Hòa và Tăng Trưởng đều có thể hành trì cho tự cá nhân mình hoặc cho các chúng sinh khác. Nhưng Lễ Hỏa Tịnh loại Hàng Phục và Tống Khứ chỉ có thể hành trì cho người khác chứ không được làm cho mình, bởi vì nếu hành lễ hàng phục hay tống khứ một sinh linh nào để lợi ích cho chính mình là đi ngược lại hạnh nguyện Bồ tát, nguyên tắc căn bản của con đường tu hành Mật Tông Phật giáo.

Nghi lễ Hỏa Tịnh Hàng Phục dùng để đối trị và khuất phục các ma lực làm hại các chúng sinh khác.

Nghi lễ Hỏa Tịnh Tống Khứ dùng để đối trị các ma lực làm hại người khác ở trường hợp khi đã dùng nghi lễ Hỏa Tịnh Hàng Phục rồi, nhưng không thành công và ma lực ấy cứ tiếp tục nhiễu hại người. Lễ Cúng Dường Hỏa Tịnh Tống Khứ có công năng trục xuất hay an bình nỗi khiếp sợ của nạn nhân bị nhiễu hại và làm cho ma lực ngưng quấy nhiễu. Khi hành trì nghi lễ Tống Khứ này, vị Bổn Sư đàn chủ phải luôn luôn phát nguyện khởi lòng đại bi với một tâm thức nhu nhuyễn, không những đối với nạn nhân bị nhiễu hại mà cả đối với các sinh linh tạo ma lực làm hại các nạn nhân. Ở Tây Tạng, phần lớn các nghi lễ ấy dùng để xua đuổi hoặc hàng phục các sinh linh quấy nhiễu địa phương sở tại, thí dụ như là các sinh linh ma quỷ quấy nhiễu, trường hợp bị ma nhập hay là bị lính tráng cướp phá v.v…

Chọn chỗ thích hợp để hành nghi lễ
Lễ Hỏa Tịnh thường được hành trì ở một bãi đất rộng lớn ngoài trời (làm đạo tràng) hay là trên mái nhà của một tòa nhà lớn. Ở Ấn độ thường có các lễ cúng dường lửa ở trong những toà nhà lớn đặc biệt dành cho nghi lễ lửa. Tuy nhiên, truyền thống này không lan truyền qua Tây Tạng.

Sau khi thiền quán tự hoá mình thành vị Hộ Phật của mật pháp hành giả đã chọn lựa, vị Bổn Sư đàn chủ cúng dường bánh hình tượng (torma) đến chư địa thần và xin phép để được hành lễ cúng dường. Sau đó, vị Bổn Sư đàn chủ quán đã được phép hành lễ. Để xua tan mọi mọi vấn đề của đạo tràng, vị đàn chủ trì chú xua tan chướng ngại, và bắt đầu thiền quán nhập tánh Không.
Dựng nền làm đồ hình mạn đà la

Nền để vẽ đồ hình mạn đà la phải được dựng trước tiên. Nền là một hình vuông vức khoảng 2 bộ anh, có thể dựng bằng gạch nung bao chung quanh một hình vuông 2 bộ anh. Trong hình vuông đó, chúng ta đổ đầy cát mịn mầu trắng và san bằng. Trên nền cát mịn này chư tăng vẽ hình mạn đà la của lễ Hỏa Tịnh. Củi khô lớn bằng cổ tay và bắp vế được dựng, một đầu trên hình vuông bao quanh mạn đà la, đầu kia chụm lại bên trên như là khi chúng ta làm lửa trại. Nếu cần, xếp các khúc củi nhỏ làm mồi lửa dưới các khúc củi lớn để khi đốt, lửa dễ bắt cháy, khi củi lớn đã cháy thì không còn phải mồi lửa nữa. Chúng ta cần phải hiểu rõ, thần lực tịnh hóa của lễ Hỏa Tịnh đến từ mạn đà la đã được chú nguyện bởi chư tăng. Lửa tự nó không có thần lực, nhưng khi ngọn lửa bốc lên từ trên nền cát mịn có vẽ đồ hình mạn đà la đã được chú nguyện hộ trì làm căn cứ, thì nó sẽ bốc lên với đầy đủ thần lực hộ trì.

Họa đồ hình mạn đà la cho nghi lễ Hỏa Tịnh An Hòa

Trên chính giữa của nền cát mịn, chư tăng họa đồ hình mạn đà la, là một bông hoa tám cánh, đường kính khoảng nhỏ hơn 2 bộ anh một chút nằm vừa vặn nơi chính giữa của hình vuông bằng gạch nung. Chúng ta gọi là nền mạn đà la. Chính giữa là hình chùy kim cang to khoảng 6 đốt tay anh. Bên ngoài bông hoa là một vòng tròn rộng khoảng 4 đốt tay anh. Ngoài cùng nữa là vòng rộng 4 đốt tay, trên đó vẽ nhiều hình chùy kim cang. Bên ngoài là hình vuông rộng hai đốt tay (một đầu củi được dựng trên hình vuông này), bốn góc vẽ hình nửa chùy kim cang và nửa hình mặt trăng. Sau hết ngoài cùng là hình vẽ rải rác các bông hoa. Thay vì hình vẽ, có thể dùng cát mạn đà la để rắc thành hình nền mạn đà la.

Họa đồ hình mạn đà la cho nghi lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng

Cũng tiến hành như trên, nhưng hình chính giữa là bánh xe có 8 nhánh, chính giữa là châu báu. Quanh bánh xe là hình vuông, cạnh cách xa bánh xe 8 đốt tay, và một đầu củi được xếp dựa trên hình vuông. Bên ngoài là hàng rào châu báu cũng 8 đốt tay và bao quanh là hình vuông bốn góc vẽ hình nửa chùy kim cang và nửa mặt trăng. Phần ngoài cùng còn lại vẽ rải rác hình các bông hoa.

Phần hành trì

Một cái ngai cho vị bổn sư chủ lễ được dựng lên trước nền, cách xa khoảng 2 bộ anh. Ngai phải được làm cao hơn nền khoảng 2 bộ rưỡi anh, trên đó là bồ đoàn cho vị đàn chủ. Trước ngai phải có một bức tường sắt lớn che chở cho lửa khỏi táp vào ngai của vị đàn chủ. Trên bức tường sắt ấy vẽ chủng tự BAM xoay hướng ra phía ngọn lửa, tượng trưng cho thủy đại. Bên phải của vị đàn chủ đặt một cái bàn lớn trải khăn trắng cho lễ Hỏa Tịnh An Hòa và khăn vàng cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng. Trên bàn trải đầy các chất liệu hành lễ gồm có 5 thức cúng dường được phân làm hai loại :

· Bốn loại vải (trắng cho lễ Hỏa Tịnh An Hòa và vàng cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng)

· Bốn loại chất trầu hòa trong bơ, quấn trong lá trầu

· Bánh hình tượng (torma), trắng hay vàng để cúng dường chư thiên

· Cành cây gỗ tươi, dài khoảng 12 đốt tay anh, phải được cắt từ ngọn cành, còn xanh tươi, không được héo úa, có đầy đủ vỏ cây. Các cành cây này phải thẳng, không bị thủng lỗ, bằng nhau và cắt thẳng thắn. Mật ong và bơ được bôi ở đầu ngọn cành.

· Cỏ với rễ cỏ còn xanh. Mật ong và bơ được bôi ở ngọn.

· Hột mè

· Gạo chưa chà vỏ

· Hột mù tạt trắng

· Lúa mạch chà vỏ và chưa chà vỏ

· Đậu lăng tin

· Lúa mì


Tất cả các thứ trên đều được chà xát với bơ và mật ong. Gạo (cơm) chín trộn đường mật, sữa đông, mật ong và đường. Đó là những chất liệu đặc biệt dùng cho lễ cúng dường Hỏa Tịnh An Hòa, công thêm sữa đông, sữa, hột mè, cơm chín, gạo thính, cỏ Câu Thi, cỏ tràng kỷ, gỗ trầm và hoa thơm màu trắng. Những thức này được chà xát với dầu ăn thực vật và mật ong.

Các chất liệu cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng cũng tương tự như thế, nhưng mọi thức cần phải là màu vàng hoặc càng nhiều thức màu vàng càng tốt.

Tất cả các chất liệu được xếp thành đống loại, và sắp thành hàng trên bàn. Cũng cần có một cái bình màu trắng hoặc màu vàng (tùy theo nghi lễ), trong bình chứa bốn loại nước cúng dường : nước rửa tay, nước rửa chân, và nước súc miệng cho chư Hộ Phật và để tưới rảy.

Lửa mồi
Lễ Hỏa Tịnh An Hòa cần được mồi lửa trên củi từ các nguồn lửa sau :

· mồi lửa do chà xát hai miếng gỗ

· lửa mồi từ nhà

· lửa từ nơi rất xa, cô lập

· lửa từ buổi lễ cúng dường trước

Lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng cần được mồi từ lửa của nhà vua, lửa đánh từ hai hạt châu báu, hay là lửa từ bếp nhà của một vị sư,

Y phục của các khán giả tham dự lễ

Các khán giả tham dự lễ và các vị phụ tá hành lễ nên tắm rửa sạch sẽ trước. Cư sĩ nên mặc quần áo trắng khi dự lễ An Hòa và quần áo vàng khi dự lễ Tăng Trưởng. Chư tăng nên mặc y như y của chư vị Hộ Phật ra ngoài y áo của mình để dễ dàng thiền quán hóa thành chư Hộ Phật.

Các điều kiện khác

Số lượng chất liệu cúng dường trong buổi lễ có thể thay đổi tùy hoàn cảnh. Để hành trì lễ, hành giả cần phải đã có thọ các lễ quán đảnh cho phép hành trì mật pháp của vị Hộ Phật mà vị hành giả sẽ hành lễ hôm đó và cần phải trì tụng ít nhất đủ 1000 lần câu chú cần thiết. Vị hành giả cũng cần phải đã thọ trì Bồ tát giới và Mật tông giới. Nhiều khi các kỳ nhập thất dài hơn lại còn đòi hỏi phải tụng đủ một triệu lần hay hai triệu lần câu chú. Thường thì một phần mười của các câu chú được cúng dường lên Hỏa Thần cùng với ba nắm tay chất liệu cúng dường, các phần lớn còn lại được cúng dường lên vị Hộ Phật chính.

Nếu hành giả đã có linh kiến nhìn thấy trực tiếp vị Hộ Phật trong kỳ nhập thất thì không cần phải trì chú nhiều như vậy cũng như không cần phải hành lễ Hỏa Tịnh vì làm những điều đó là để kiên cố thêm liên hệ với vị Hộ Phật, vì khi có linh kiến nhìn thấy trực tiếp vị Hộ Phật là đã đạt thành mục đích rồi.

Vào buổi sáng trước khi hành lễ Hỏa Tịnh, trước khi lên tòa ngồi, vị đàn chủ và chư tăng phải thiền quán vị Hộ Phật, cúng dường vị Hộ Phật với nước, hoa, bánh tượng (torma), và v.v… cũng như trì chú của vị Hộ Phật.

Phần dự bị cho buổi lễ chính
Vị Bổn Sư đàn chủ lên tọa trên ngai và chư tăng phụ tá ngồi trên hàng ghế trước mặt hoặc ngồi xếp hàng hai bên. Khi hành lễ Hỏa Tịnh An Hòa, vị đàn chủ ngồi khoanh chân kiết già, còn khi hành lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng vị đàn chủ ngồi buông chân như tư thế trong hình của Phật Di Lặc theo truyền thống Tây Tạng (là vị Phật tương lai, xin xem hình 1). Trước vị đàn chủ phải đặt một cái bàn nhỏ trên đó xếp chuông nhỏ và trống nhỏ (pháp khí của mật tông), một bình tịnh thủy, chén hình sọ người trong đó chứa nước cúng dường bên trong (nội tâm).

Sau đó, vị Bổn Sư đàn chủ và chư tăng thiền quán rải từ bi và quán tưởng hình mạn đà la lớn (cung điện mà chư Hộ Phật trụ bên trong). Quán mạn đà la nào thì tùy theo vị Hộ Phật mà hành giả chọn làm lễ cúng dường, thông thường lễ Hỏa Tịnh An Hòa để tịnh hóa nghiệp, vị Bổn Sư đàn chủ quán về vị Hộ Phật Chiến Thắng Dạ Ma (Yamantaka), tuy nhiên tất cả tùy thuộc vào buổi lễ vì cũng có khi là vị Hộ Phật Quán Âm hay Dược Sư hay là chư Hộ Phật khác. Nói chung là lễ cúng dường đến vị Hộ Phật nào thì vị đàn chủ quán về mạn đà la của vị Hộ Phật đó, nhưng khi làm lễ Hỏa Tịnh về một vị Hộ Pháp thì phải quán khác đi, vì thông thường không thể quán mạn đà la của Hộ Pháp được.

Trong cái hai bình trên bàn trước mặt vị đàn chủ, một bình chứa nước rảy và bình kia chứa bốn loại nước cúng dường. Vị đàn chủ sẽ chuyên nước cúng dường sang ba cái vỏ sò. Sau đó, khi đến lúc cúng dường mỗi loại nước thì lại chuyên sang bình cúng dường. Nước cúng dường luôn luôn đã được sửa soạn trước và được hộ trì bằng các chú nguyện.

Vị đàn chủ lại thiền quán thêm lần nữa về từ bi và quán sang tánh Không của nhất thiết pháp, sau đó cúng dường bánh tượng (torma) cho các sinh linh và các thần linh trú tại nơi đó, thỉnh cầu các vị đó đừng gây chướng ngại cho buổi hành lễ và mời họ thọ hưởng phúc lạc của buổi lễ. Lời cầu nguyện phải đi theo sát văn bản trì tụng. Chánh niệm trong quán tưởng về ý nghĩa các pháp khí, vị đàn chủ và chư tăng phụ lễ tay cầm chùy kim cang và chuông trong suốt buổi hành lễ. Sau đó, rảy nước từ bình tịnh thủy trên nền mạn đà la, trên ngai tọa và trên tất cả các chất liệu cúng dường để xua tan các chướng ngại cũng như các ô nhiễm trên đó. Phần cúng dường này được hộ trì bởi thiền quán là tất cả các thức cúng đều hòa tan thành tánh Không và rồi lại khởi lên thành tinh túy của tánh Không, hoàn toàn tịnh sạch mọi ô nhiễm. Sau đó là phần trì chú để tiên trừ ô nhiễm trên các thức cúng, bơ v.v... Một ngọn đuốc được gắn vào đầu một thanh gỗ dài, bao chung quanh bởi cỏ khô sạch sẽ, cột thêm một khăn trắng cúng dường và vị đàn chủ rảy nước trên đó để xua đi các chướng ngại trước khi mồi lửa vào đuốc. Vị đàn chủ nhúng đuốc cháy vào đống củi khô đã được xếp trên nền mạn đà la. Các vị phụ lễ dùng một cái quạt làm bằng một miếng vải xanh vuông vức, cột vào hai thanh gỗ để quạt 7 lần cho lửa bốc lên, đồng thời bơ được rưới lên trên củi để giúp lửa cháy. Cỏ Câu Thi, truyền thống cổ Ấn độ tin rằng loại cỏ này có công năng tịnh hóa, cũng được dùng để xua đi các chướng ngại, vị đàn chủ tung từng hai nhánh cỏ Câu Thi vào ngọn lửa để thỉnh cầu sự che chở. Khi hành lễ ở Ấn độ, các chất liệu này có nhiều nên vị đàn chủ có thể sử dụng những khối lượng lớn, nhưng ở Tây Tạng và ở ngoại quốc, vì khó kiếm nên phải tiết kiệm các chất liệu này.

Hỏa lễ cúng dường

Vị đàn chủ rảy nước thêm lần nữa vào nền mạn đà la để xua tan các chướng ngại và quán nền mạn đà la hòa tan vào trong tánh Không, rồi từ đó khởi lên đức Phật Tỳ Lô Giá Na và hóa thành nền mạn đà la, chính là tinh túy của trí tuệ. Nền mạn đà la này thanh tịnh thuần khiết và chứa tất cả các phẩm chất của một nền dúng làm lễ cúng dường Hỏa Tịnh An Hòa.

Chính giữa của nền mạn đà la là một hình tam giác lửa, ở nơi tâm điểm an trụ vị Thần Lửa (Agnidevatta). Thần Lửa (nam) có thân màu trắng, và có ba khuôn mặt, khuôn mặt chính diện màu trắng, mặt phải màu đỏ, mặt trái màu đen. Thần Lửa có sáu tay. Chân phải cong và chân trái thẳng (xem hình 2). Từ một hình tam giác lửa nơi tim phát ra một tia sáng thỉnh một vị hóa thân thị hiện, vị này đứng trên cỏ Câu Thi trước khi hòa tan vào tam giác lửa ấy.

Buổi lễ luôn luôn thỉnh mời Thần Lửa thị hiện để các thức cúng dường khỏi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa tầm thường. Nếu vị đàn chủ nào chỉ mới làm buổi lễ này lần đầu tiên thì nên cúng dường một phần mười của tổng số các thức cúng dường để mời vị Thần Lửa đến lần đầu tiên. Sau đó, thì Thần Lửa sẽ đến bất cứ khi nào được triệu thỉnh. Thức cúng dường được sắp làm hai bộ trên mặt bàn, một bộ dành để cúng dường Thần Lửa và bộ kia dành để cúng dường đến vị Hộ Phật hay là vị Hộ Pháp của buổi lễ.

Vị đàn chủ rảy nước từ bình tịnh thủy, tung hoa cúng dường trên không, và bơ chảy được rưới lên lửa. Vị đàn chủ cầm một cái môi dài và rưới bơ qua một cái phễu vuông cũng được cột vào một cái thanh dài để cầm, và như thế mà bơ rưới vào lửa. Vị đàn chủ quán rót bẩy lần bơ vào miệng của vị Thần Lửa. Và phải quán bơ chảy này chính là tinh túy của giòng nước cam lộ.



Mục đích chung của cúng dường các thức là để tiêu trừ các chướng ngại ngăn che giác ngộ bằng cách tẩy sạch các vết ô nhiễm gây ra từ các ác nghiệp, nhất là ác nghiệp do không giữ giới, và ngăn chặn mọi điều bất tường. Tuy nhiên, mỗi thức cúng dường đều có mục đích riêng biệt. Theo thứ tự các thức cúng dường Thần Lửa, mỗi thức có ý nghĩa sau :

Cúng bơ chảy để xin tăng trưởng thọ mạng, công đức và thành công thịnh vượng. Hành giả quán vị Thần Lửa đã hứa giúp thành tựu các điều cầu xin.

Các cành gỗ, cỏ Câu Thi và cỏ tràng kỷ cúng để tăng trưởng ánh sáng của vị Hộ Phật. Cành gỗ cúng thành từng đôi và phải cẩn thận không được lộn đầu lộn đuôi của các cành gỗ đó. Các thức này cúng để tiêu trừ chướng ngại về sức khỏe và đạt địa vị cao trong đời sống.

Cúng dường hột mè để tiêu trừ các ác hạnh, cỏ tràng kỷ để tăng trưởng thọ mạng, gạo để tăng công đức, gạo trộn sữa đông để tăng hạnh phúc, cỏ Câu Thi để che chở không bị ô nhiễm, hột mù tạt để xua tan các chướng ngại, lúa mạch hạt to chưa chà vỏ để tăng của cải, hạt lúa mạch để đạt thành tựu nhanh chóng, đậu lăng tin để tăng sức mạnh, và lúa mì để khắc phục bệnh tật. Các thức trộn nhiều chất, cũng là các thức ’đặc biệt’, được cúng dường để xin tăng trí tuệ.

Thành tựu cao nhất là để xin đạt giác ngộ, và đó cũng là mục đích chung của các thức cúng dường.

Lễ Hỏa Tịnh An Hòa hành trì sau một thời kỳ nhập thất thường được dùng để bổ túc đền bù cho các lỗi lầm hành trì như là định không sâu, không rõ nét, trì chú sai, kém hay là trì chú không đủ số. Trong trường hợp lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng, các thức cúng dường Thần Lửa để cầu tăng trưởng thọ mạng, công đức, của cải và trí tuệ của tam thượng học văn tư và tu

Bộ thứ hai của các thức là để cúng dường lên vị Hộ Phật hoặc là vị Hộ pháp. Hành giả (là vị đàn chủ) chú nguyện các thức cúng dường, quán tất cả hòa tan vào trong Tánh Không và rồi lại hiện ra trở lại từ Tánh Không và mang bản chất của Tánh Không.

Sau đó, hành giả quán toàn thể cung điện của vị Hộ Phật khởi ra từ tim của vị Thần Lửa, với từng vị Hộ Phật ở đúng các vị trí. Nếu vị Hộ Phật đó không có cung điện mạn đà la tương ưng, hành giả quán vị ấy ngồi trên toà hay ngồi trên cỗ xe. Khi buổi lễ có cả mạn đà la thì một vị sư phụ lễ sẽ phải đảnh lễ trước hình mạn đà la, thí dụ như vẽ trên vải hay gỗ, và cầu nguyện đến vị Hộ Phật chính như sau : chúng con hành trì buổi lễ để xin cho các ước nguyện được thành tựu, và thỉnh cầu vị Hộ Phật nhập vào trong cung điện đã quán tưởng trong ngọn lửa. Vị phụ lễ sau đó lấy một nắm tay các hạt bỏ vào chén vừa đi nhiễu vòng quanh mạn đà la vừa trì chú thỉnh mỗi một vị Hộ Phật từ mạn đà la vào trong chén (trong chén đã có sẵn vài mảnh nhỏ của chập chõa và kèn). Vị phụ lễ đi nhiễu vòng quanh nền mạn đà la ba lần và đưa chén ấy cho vị đàn chủ. Vị này tung các hạt trong chén vào lửa trong khi trì chú của vị Hộ Phật và quán tưởng chư Hộ Phật trong chén đã đi ra và nhập vào cung điện mà vị đàn chủ đã quán tưởng nằm trong lửa.

Đến đây, bộ thứ hai của các thức cúng dường được dùng. Bộ thứ hai gồm nhiều thức hơn bộ thứ nhất dùng để cúng dường Thần Lửa, nhưng các tiến trình hành lễ thứ tự và lợi lạc cũng giống như vậy. Sau mỗi phần cúng dường đến vị Hộ Phật chính, một phần nhỏ các thức được cúng dường lên chư tùy tùng hộ giá. Khi các thức cúng dường đã hết, hành giả (vị đàn chủ) rảy nước từ bình tịnh thủy lên trên lửa, quán là các ô nhiễm đã hoàn toàn tiêu trừ.

Đàn chủ cúng dường bơ chảy và hoa lên chư Hộ Phật, sau đó cúng dường bánh hình tượng (torma), trong khi quán bánh là tinh túy của nước cam lộ. Tiếp theo, hai mảnh vải sạch tượng trưng cho y phục phần trên và dưới được bỏ vào lửa, cùng rưới thêm bơ và mật ong (trầu) và lại cúng thêm hoa. Và tụng kệ tán thán dâng chư Hộ Phật, thỉnh chư vị từ niệm các lỗi lầm khi hành lễ. Sau đó, khấn xin được thành tựu các nguyện ước.

Khi đàn tràng không có kèm theo mạn đà la thật mà chỉ quán tưởng mạn đà la thôi, thì đàn chủ sau đó thỉnh chư vị Hộ Phật trở về cung điện mạn đà la của chư vị, cùng lúc, quán các hứa nguyện hòa tan vào trong vị Bổn Sư đàn chủ. Tuy nhiên, khi mạn đà la thật và riêng rẽ được thực hiện trong buổi lễ, như là mạn đà la cát hay tranh vẽ mạn đà la thì phải quán thỉnh chư Hộ Phật trở về nhập vào trong mạn đà la thật ấy, bằng cách quán: bắt đầu là chư vị từ cung điện trong ngọn lửa trở về chén đựng các hạt cúng dường trước đó, chén này do một vị sư phụ lễ cầm, lúc đó kèn (yaling) và chập chõa phải nổi lên để thỉnh chư vị Hộ Phật trở về cung điện là mạn đà la.

Bảy thức còn lại bây giờ cúng dường lên vị Thần Lửa, và cùng làm theo thứ tự trước, bắt đầu là cúng một nhúm của tất cả mọi thức cúng dường, gỗ, cỏ và v.v…. Bảy thức cúng dưòng được cúng tiếp theo, sau đó là phần cúng bánh hình tượng (torma) và tụng kệ tán thán. Vị Bổn Sư đàn chủ thỉnh Thần Lửa giúp đỡ và che chở hộ trì chống bệnh tật, được trường thọ và của cải. Sau đó, thỉnh Thần Lửa từ niệm những lỗi lầm khi hành lễ. Sau khi quán là đã thỉnh Thần Lửa để ban phúc lạc đến cho mình và mọi người, vị đàn chủ thỉnh Thần Lửa trở về bản địa và xin Thần Lửa hứa thị hiện bất cứ khi nào được thỉnh cầu. Chư tôn huệ thân quay trở về cung điện bản địa của chư vị, trong khi vị đàn chủ quán là các hứa nguyện đã quay trở lại vào trong tinh túy của ngọn lửa.

Lễ như thế đã hoàn mãn và ngọn lửa cứ để cháy dần cho đến khi tàn lụi. Tuy nhiên, khi hành lễ Hỏa Tịnh An Hòa thì có thể dập tắt ngọn lửa bằng nước trộn với sữa. Khi hành lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng, chỉ dùng nước hoa thơm để dập tắt lửa. Cuối cùng, các tro tàn có thể bỏ vào trong bình mang ra sông thả hay là rắc chung quanh chùa để che chở hộ trì cho chùa.






Lời góp ý với các Phật tử đến dự lễ

Chúng ta có duyên may thù thắng để được dự lễ, nên phát tín tâm mạnh mẽ vào oai lực của chư tăng và buổi lễ. Khi chưa được thọ lễ Quán Đảnh thì chưa được phép chính thức để trì chú của vị Hộ Phật, do đó chúng tôi không dám tùy tiện chép các câu chú vào trong khuôn khổ bài viết này. Tuy nhiên cho dù chưa thọ lễ quán đảnh, nhưng hãy thành tâm khi nghe chư tăng hành lễ, cứ chú tâm nghe các câu chú do chư tăng đọc đi đọc lại rất nhiều lần, vừa đọc vừa tung các chất liệu cúng dường vào lửa cho nên rất dễ theo dõi và nhận ra câu chú. Nếu có thể hãy tập trung tâm thức vào câu chú (hay trì tụng thầm theo chư tăng) trong khi chư tăng hành lễ. Được vậy, toàn buổi lễ sẽ mang lại vô cùng lợi lạc cho Phật tử dự lễ.

Montréal, ngày 20 tháng 8, 2006

Lễ Hỏa Tịnh – Jinsik : do Sonam Nyima Chân Giác (Gia Nã Đại) và Giao Trinh Diệu Hạnh (Pháp) đồng soạn và dịch thuật.

Sách tham khảo : trích dịch một phần từ cuốn Choyang, Vol. 1-No.2, 1987.

Đức Jigten Sumgon tổ thứ nhất của giòng Drikung Kagyu - BÀI CA SOI SÁNG TÂM HỒI NHỚ

BÀI CA SOI SÁNG TÂM HỒI NHỚ
Đức Jigten Sumgon
Khenchen Konchog Gyalsten Rinpoche & Rick Finney 
chuyển từ Tạng-ngữ sang Anh-ngữ, Tâm-Bảo-Đàn chuyển Việt-ngữ

Đức Jigten Sumgon tổ thứ nhất của giòng Drikung Kagyu

Thuở nọ, khi đức Jigten Sumgon [vị Tổ thứ Nhất của giòng phái Drikung Kagyu] đang an trú tại tu viện Drikung Thil [Tây-Tạng], ngài kêu gọi khoảng 30 đại đệ tử của ngài về vân tập tại một cánh đồng bát ngát ngay sau tu viện

Tại đây, đức Jigten Sumgon truyền lệnh cho các đệ tử thi triển pháp thần thông. Không ai trong số 30 đại đệ tử là không làm được theo lệnh truyền của sư phụ, ngoại trừ một người duy nhất. Người đó là Rinchen Drak. Quá xấu hổ, Rinchen Drak đột ngột lià đời.

[Theo tục lệ Tây Tạng], thi hài của người chết được đem xẻ ra để phân phát cho loài chim kên-kên.  Nhưng người ta không thể xẻ thi hài của Rinchen Drak ra được - không con dao nào chạm được vào tử thi này.  Đại sư Jigten Sumgon liền đặt đầu mũi cây tích trượng của ngài lên ngay vùng tim của Rinchen Drak, và cất tiếng hát lên bài ca sau đây...

Chí tâm đảnh lễ đức Phagmo Drupa vinh hiển.
Rinchen Drak, con ta ơi, hãy lắng nghe cho rõ.

Ka!
Vào giây phút lià đời...
Mọi vọng động thế gian chỉ là điều dối trá --

Tám pháp thế gian chẳng khác chi sắc cầu vồng.
Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào những điều đó được không?
Khi con nhìn thấy đám đông bằng hữu phải chia lìa,
Bao thương yêu trìu mến của quyến thuộc, bạn bè chỉ là điều dối trá,
Những lời âu yếm tự đáy tim chẳng khác nào tiếng vọng --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào những điều đó được không?
Khi con nhìn thấy sự tăng trưởng và lụn tàn của thân tứ đại,
Ảo tưởng về sức mạnhtài năng chỉ là điều dối trá,
Đoá hoa xuân của tuổi trẻ --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào điều đó được không?
Của cải gom góp, được đem ra tiêu dùng, con thấy đó,
Những chắt chiu đầy tham đắm nhọc nhằn cũng là điều dối trá,
Thức ăntài sản chẳng khác chi giọt sương trên đầu ngọn cỏ --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào những đĩều đó được không?
Khi con nhìn thấy ra được khổ não của vòng sinh tử,
Thì hạnh phúc của chư thiêncon người chỉ là điều dối trá,
Niềm vui, nỗi khổ luân hồi -

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào những đĩều đó được không?
Đối với cội cây, đấng từ phụ, tâm Bồ Đề cao quý,
Tánh thiên vị của đám học trò chỉ là điều dối trá,
Bạn bè, những kẻ bất thiện, lầm lạc trong ảo tưởng --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào họ được không?
Khi con hiểu ra được rằng tất cả chúng sinh đều là cha mẹ,
Bám chấp nơi bản ngã tự tôn chỉ là điều dối trá,
Cỗ xe nhỏ, con đường độc giác --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào điều đó được không?
Khi con đã hoàn toàn tin tưởng vào định luật nhân quả,
Thì lời hướng dẫn ‘không cần tinh tấn’ chỉ là điều dối trá,
Sấm sét không mưa chỉ là một bầu trời trống rỗng --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào điều đó được không?
Đối với bậc đạo sư đã chứng đắc, tiềm tàng năng lực và ân điển,
Ma vương chướng ngại và mọi lỗi lầm chỉ là điều dối trá,
Miệng soen soét những câu kinh cầu như một con vẹt --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào điều đó được không?
Khi con đã chứng ngộ được bản tánh chân như của tâm,
Thì ba kỳ muôn ức vạn niên chỉ là điều dối trá,
Bánh xe ảo tưởng của chân lý nhuộm màu tương đối --

Nghĩ lại xem, con có đặt niềm tin vào điều đó được không?
Nơi bãi tha ma ‘Gom Tụ Ngọc Xá Lợi,’
Một mình quạnh quẽ, con ta ơi, con có buồn không?
Chẳng gì có thể tồn tại, tất cả đều phải hoại diệt,
Rinchen Drak ơi, đừng tham luyến nữa,
Nếu tâm con vẫn còn tham đắm,
Hãy chuyển hết tâm đó vào trái tim thầy !

Ngay sau đó, nguời ta xẻ được thi hài của Rinchen Drak ra, và bên trong thấy có vô vàn những viên ngọc xá lợi bé xíu đủ màu sắc.  Nhiều đến nỗi phải dùng những chiếc chổi quét để có thể vun hết những viên ngọc đó lại...

Khenchen Konchog Gyalsten Rinpoche & Rick Finney chuyển từ Tạng-ngữ sang Anh-ngữ.
Tâm-Bảo-Đàn chuyển Việt-ngữ.

www.drikungmahayanacenter.org

Kinh Niệm Phật Ba La Mật - XƯNG TÁN DANH HIỆU

PHẨM THỨ TƯ
XƯNG TÁN DANH HIỆU



Bấy giờ, Quốc mẫu Vi-Đề-Hy hoàng thái hậu từ trong pháp hội bước ra, cung kính đảnh lễ Thế-Tôn, rồi chấp tay hướng về ngài Phổ-Hiền Đại Bồ-Tát, mà thưa rằng:

- “Kính bạch Đại-sĩ, con thường nghe chư vị trưởng lão từng tham dự những buổi thuyết pháp đầu tiên của đức Thế-Tôn tại vườn Lộc-Uyển, dạy rằng hoặc niệm Phật, hoặc niệm Pháp, hoặc niệm Tăng để được hiện tại lạc trú. Ý nghĩa ấy như thế nào ? Cứu cánh của môn niệm Phật có phải chăng là để được như vậy hay không ? Ngưỡng mong Đại-sĩ từ bi chỉ dạy, ngõ hầu các chúng sanh thời Mạt pháp khỏi rơi vào mê lầm, thác ngộ”.

Phổ-Hiền Bồ-Tát bèn quán sát tâm niệm của hết thảy đại chúng hiện tiền, mà dạy rằng :
- “Nầy Phật tử, khi đức Thế-Tôn Thích-Ca Mâu-Ni thị hiện thành đạo, và bắt đầu hóa độ chúng sanh cang cường, Ngài đã vì hạng tiểu căn mà khai diễn tiểu pháp kẻo họ kinh nghi ... Nay đã tới thời kỳ giảng nói Đại pháp. Cũng chỉ là một pháp Niệm Phật, nhưng kẻ hạ liệt chí nhỏ, mong cầu xuất ly tam giới, thì niệm Phật chỉ là pháp Thanh-văn, Duyên-giác. Như-Lai vì họ mà dạy hiện tại lạc trú.
Riêng chư vị Bồ-Tát sơ phát tâm, dùng niệm Phật để thâm nhập Như-Lai tạng tâm thì không dính mắc vào hiện tại.

Vì sao chư Bồ-Tát sơ phát tâm lại không được dính mắc vào hiện tại ?
Nếu Bồ-Tát sơ phát tâm dính mắc vào hiện tại khắc chế, hiện tại tương ưng, hoặc hiện tại biện giải, thì bị rơi vào ảo tưởng của thọ uẩn.

Nếu Bồ-Tát sơ phát tâm dính mắc vào hiện tại tỉnh chỉ, hoặc hiện tại luân chuyển, hoặc hiện tại nương gá, tức thì đang bị chi phối bởi ảo tưởng của tưởng uẩn.

Nếu Bồ-Tát sơ phát tâm dính mắc vào hiện tại sanh khởi, hiện tại tương tục, hoặc hiện tại đoạn diệt, hoặc hiện tại bất động, tức thì đang bị trôi lặn theo ảo tưởng của hành uẩn.
Nếu Bồ-Tát sơ phát tâm dính mắc vào hiện tại phỉ lạc, hoặc hiện tại vong ưu, hoặc hiện tại mông muội, tức thì đang bị triển chuyển bởi ảo tưởng của thức uẩn.

Lại nữa, Bồ-Tát sơ phát tâm muốn xoay cái vọng tưởng hư dối sanh diệt trở lại với chân tâm thanh tịnh thường trụ thì phải dùng pháp gì, nếu không là danh hiệu Như-Lai ? Làm thế nào để chặt đứt gốc rễ phiền não, nếu không sử dụng lực vô úy của danh hiệu Như-Lai ? Làm thế nào để diệt trừ sạch hết sáu tên giặc khác trần nếu không hiển thị công năng nhiệm mầu đệ nhất của danh hiệu Như-Lai ?

Nầy Phật tử, cõi Diêm-phù-đề nầy vốn lấy âm thanh làm thể. Dó đó, nhiều chúng sanh có thể nương nơi âm thanh viên mãn mà chứng viên thông. Như vậy, danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật chính là âm thanh tối thắng, đưa chúng sanh thâm nhập Như-Lai tạng diệu chân như tánh. Vì thật tướng của danh hiệu là vô tướng, không đọa vào nhân duyên, không lạc vào tự nhiên, chẳng hòa hợp, chẳng phi hòa hợp. Luôn vắng lặng, chu biến khắp mười phương. Tùy theo tín tâm, công năng tu tập mà phát huy diệu dụng.

Nầy Phật tử, danh hiệu Phật chính là Bồ-đề-tâm, vì là chủ tể các thiện pháp, và luôn luôn sanh ra tất cả Phật Pháp.

Danh hiệu Phật chính là Bồ-đề-nguyện, vì là cửa ngõ xu hướng Vô-thượng-giác, và luôn luôn dẫn dắt chúng sanh tới Nhứt-thiết Chủng-trí.

Danh hiệu Phật như mặt trời, vì có uy lực phá trừ si ám, ban phát ánh sáng thiện căn cho nhân gian.

Danh hiệu Phật như kình ngư, vì có thể bơi lội tự tại trong đại dương khổ não, mà chẳng bị sóng dữ phiền não vùi chôn, cuốn lấp.

Danh hiệu Phật như giống chắc thật, vì có thể lưu xuất tất cả phước đức vô lậu.

Danh hiệu Phật như trận mưa lớn, vì khiến hạt giống Bồ-đề nẩy nở, sanh sôi.

Danh hiệu Phật như ruộng tốt, vì có thể trưởng dưỡng hết thảy bạch tịnh pháp.

Danh hiệu Phật như nước cam lồ quý báu, vì có thể tẩy rửa mọi thứ phiền não dơ bẩn, khiến vọng tâm trở thành đài gương làu làu sáng sạch.

Danh hiệu Phật như ngọn lửa mạnh mẽ, vì có thể đốt tan rừng rậm kiến chấp.

Danh hiệu Phật như trận cuồng phong vô ngại khắp thế gian, vì nó cuốn phăng tất cả bụi mù tà kiến, hí luận, thiên kiến.

Danh hiệu Phật như tuệ nhãn xuyên thấu mọi pháp và thấy rõ khắp tất cả chướng ngại, hiểm trở.

Danh hiệu Phật như chiếc xe khổng lồ, vì có thể chuyển vận hết thảy Bồ-Tát sơ phát tâm nhanh chóng tới Phật địa.

Danh hiệu Phật như căn nhà to rộng của Như-Lai, vì khiến chúng sanh không còn sợ hãi, bất an.

Danh hiệu Phật như cung điện nguy nga tráng lệ, vì giúp chúng sanh tu tập và khai phát vô lượng tam muội.

Danh hiệu Phật là chỗ nương tựa chắc chắn cho tất cả Bồ-Tát sơ phát tâm, vì luôn chứa nhóm và và lưu bố hết thảy Bồ-Tát hạnh.

Danh hiệu Phật như từ mẫu, vì ấp ủ, che chở và sanh ra tất cả Bồ-Tát, nuôi lớn căn lành cho hết thảy chúng sanh.

Danh hiệu Phật như kim cương bất hoại, lại có thể đập vỡ tất cả các pháp hữu lậu.

Danh hiệu Phật là vị thuốc A-già-đà, vì có thể chữa được tất cả bịnh tật cho chúng sanh.

Danh hiệu Phật như liên hoa, vì không bao giờ bị nhiễm ô bởi những pháp thế gian.

Danh hiệu Phật như tượng vương hùng dũng, có thể chà đạp tất cả điên đảo tưởng ngang trái, hung hiểm.

Danh hiệu Phật như hạt châu Ma-ni, có thể dùng phát chẩn cho tất cả chúng sanh sanh nghèo khó phước đức và trí tuệ.

Danh hiệu Phật như thủy thanh châu, vì có thể lóng sạch tất cả dây trói sanh tử.

Danh hiệu Phật như ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Thế-Tôn Như-Lai, Ưng-cúng, Chánh-đẳng-giác, do đó tất cả thế gian nên cúng dường, hân ngưỡng, tán thán ...

Danh hiệu Phật như Pháp thân bất tư nghị, vì luôn lưu xuất tất cả thân của chúng sanh.

Danh hiệu Phật như Báo thân tư nghị, vì luôn sanh ra vô lượng vi trần thân trong tâm tưởng mọi chúng sanh.

Danh hiệu Phật như Hóa thân Phật bất tư nghị, vì luôn hiện thân Phật ngay nơi thân và tâm của người xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật.

Danh hiệu Phật chính là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, vì hiển thị Báo thân viên mãn lưỡng túc của giác quả.

Danh hiệu Phật chính là Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ, vì dung nhiếp Hóa thân tùy nguyện vãng sanh của chư vị Thượng thiện nhân khắp mười phương thế giới.

Danh hiệu Phật chính là cõi Cực-Lạc vì tự thân trang nghiêm và tự tâm trang nghiêm.

Danh hiệu Phật chính là ba đời mười phương chư Phật, vì A-Di-Đà tức là Pháp-giới Tạng-thân, có lực dụng thu nhiếp và hiện Pháp thân của ba đời mười phương chư Phật.

Nầy Phật tử, danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật thành tựu vô lượng vô biên công đức như thế. Cho nên, phải nói rằng danh hiệu Phật chứa đựng vô lượng vô biên công đức của hết thảy Phật pháp, khai vô lượng vô biên diệu dụng, hiển thị vô lượng vô biên uy lực, giải ngộ vô lượng tri kiến giải thoát, siêu việt mọi tư duy, ngôn từ.

Tại làm sao thế ?
Bởi vì nhân nơi danh hiệu Phật mà xuất sanh và lưu bố tất cả Bồ-đề tâm, tất cả bồ đề nguyện, tất cả Bồ-đề hạnh. Ba đời mười phương Như-Lai thảy đều từ danh hiệu Phật mà phát sanh ra. Ba đời mười phương Như-Lai thảy đều do danh hiệu Phật mà thành đạo, chuyển pháp luân, giáo hóa nhị thừa, điều phục chúng sanh cang cường, tội khổ, tham đắm. Ba đời mười phương Như-Lai thảy đều y cứ danh hiệu Phật mà kiến lập Hoa-Tạng Thế-Giới Hải, trang nghiêm vi trần số cõi Phật.

Cho nên, nếu chúng sanh nào nhất tâm xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, tức là xuất sanh vô biên công đức vô lậu bất khả tư nghị, đủ năng lực viên mãn Bồ-tát-đạo, phát huy diệu dụng của tam thân, tứ trí, thập lực, từ vô-úy, tứ vô-lượng-tâm, lục ba-la-mật, thập bát bất-cộng v.v...

Nầy Phật tử, thí dụ như có người được món thuốc A-già-đà công hiệu bậc nhất thế gian, thì chữa được năm thứ bệnh bức não, sợ hãi. Như là: Lửa lớn không thể đốt cháy, độc dược chẳng làm thương tổn tánh mạng; gươm dao sắc bén chẳng thể chặt đứt nổi. Nước lũ bộc lưu không thể nhận chìm được. Khói cay không thể làm cho ngộp thở được.

Cũng như thế, Bồ-Tát Sơ phát tâm nếu thường xuyên xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, tức là luôn luôn uống món thuốc nhứt-thiết-trí Bồ-đề-tâm, thì ngọn lửa tham lam không thể đốt cháy được. Độc dược sân hận chẳng thể làm thương tổn chân tâm. Gươm đao kiến chấp chẳng thể chặt đứt tuệ mạng. Dòng nước lũ hữu lậu không thể nhận chìm chiếc thuyền bát-nhã được. Và đám khói tà kiến không thể làm cho ngộp tắc hơi thở giác ngộ được.

Thí dụ như có người cầm thanh bảo kiếm vô năng thắng ở trong tay, thì tất cả oán địch đều tránh dang ra xa, chẳng dám chống cự. Cũng như thế, Bồ-Tát sơ phát tâm bền chí mà xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, chính là cầm lưỡi kiếm vô năng thắng đại Bồ-đề tâm tức thì đẩy lùi oán địch vô minh, tà kiến và hàng phục vọng tưởng ...

Thí dụ như có người cầm viên thuốc Ma-ha-ưng-già thì tất cả rắn độc, rết độc, trùng độc, nghe mùi liền tránh xa. Cũng như thế, Bồ-Tát sơ phát tâm giữ trong mình một viên thuốc tối diệu tối thắng đại Bồ-đề tâm, đó là danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, thì tất cả rắn độc thập triền, rết đọc thập sử, trùng độc phiền não nghe hơi thảy đều tiêu hoại.

Thí dụ như có loài dược thọ tên là San-đa-na, người nào dùng vỏ cây để thoa vào chỗ ghẻ lở, thì hết đau nhức và ghẻ lở liền lành lặn như xưa. Vỏ cây ấy vừa bị bóc ra, thì nối liền lại ngay, lấy mãi không hề hết được. Cũng như thế, Bồ-Tát sơ phát tâm liên tục xưng niệm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, chẳng khác nào trồng cây dược thọ nhứt-thiết-trí. Nếu có người nào gặp gỡ mà phát khởi lòng tin, thì ghẻ lở phiền não, nghiệp chướng đều bị trừ diệt, thân tâm không còn đau khổ. Nhưng cây dược thọ nhứt-thiết-trí không hề tổn hại mảy may. Danh hiệu Phật vẫn y nguyên bất động.

Thí dụ như có người ném vào khoảng đồng trống một nhúm rễ cây Hương-phụ, chẳng bao lâu, nảy nở vô số giống cây ấy lan tràn che khuất cả cánh đồng rộng lớn. Cũng như thế, Bồ-Tát sơ phát tâm quyết tâm gieo trồng trên mảnh ruộng tâm một nhúm danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, tựa như ươm bón thế rễ cây không tánh. Chẳng bao lâu, sẽ sanh sôi nẩy nở vô số thảo mộc Phật Tri Kiến, tràn lan che lấp cả cánh đồng vô minh.

Thí dụ như có người uống hoàn thuốc kiện cường trí nhớ, nhờ vậy những gì nghe thấy đều ghi nhớ chẳng quên. Cũng như thế, Bồ-Tát Sơ phát tâm trang bị thân tâm bằng danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật, thì thọ trì tất cả Phật Pháp đều không quên sót.
Thí dụ như viên ngọc châu lưu ly, muôn ngàn năm lăn lóc nơi chỗ nhơ bẩn, uế tạp, mà chẳng nhiễm ô, vì bản tánh của lưu ly vốn luôn luôn trong sạch. Cũng như thế, Bồ-tát Sơ phát tâm ngày đêm thủ hộ thân tâm bằng danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật mà chen lộn nơi cõi dục ác trược, vẫn chẳng bị ngu si, tà kiến làm cho loạn nhiễm. Bởi vì bản chất của Nam-mô A-Di-Đà Phật vốn thanh tịnh như pháp giới tánh, vô cấu như hư không tánh.

Thí dụ như cây Ba-lợi Chất-đa-la dẫu chưa đơm hoa, khai nụ, nhưng mọi người đều biết rằng chính loại cây này sẽ sản xuất vô số bông hoa mỹ diệu, thù thắng. Cũng như thế, năng lực niệm Phật của vị Bồ-Tát sơ phát tâm dẫu chưa phá sanh nhứt thiết chủng trí, nhưng ai nấy đều biết chắc chắn rằng danh hiệu Phật chính là nơi xuất sanh vô số Bồ-đề diệu hoa cho hết thảy chúng nhân thiên.
Thí dụ như viên ngọc Ma-ni quý hơn cả tam-thiên đại-thiên thế giới, dẫu bị nứt bể một góc cạnh, nhưng những thứ vật báu khác vẫn chẳng thể so sánh nổi. Cũng như thế Bồ-Tát sơ phát tâm chấp trì danh hiệu Phật, tuy nết hạnh và trí đức còn kém khuyết vẫn vượt lên trên nhị thừa và hàng hữu học khác.

Thí dụ như cây kim cương, những người đầy đủ sức mạnh vẫn không thể sử dụng nổi, chỉ trừ đại lực sĩ Na-La-Diên. Cũng như thế, hành nhị thừa và kẻ phàm ngu chẳng thể tín thọ danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật. Chỉ trừ hạng Bồ-Tát sơ phát tâm từng gieo trồng hạt giống Bát-nhã từ vô lượng kiếp sâu xa, mới sẵn đủ thiện căn, phước đức và đại nhân duyên để chấp trì và hưởng dụng giác quả vô lậu ấy.

Thí dụ như trên bảo tòa Kim-cương giữa đại thiên thế giới, có thể giữ vững chư Phật ngồi đạo tràng, hàng phục quần ma, thành đạo vô thượng chính giác, mà tất cả những thứ bảo tòa khác đều không kham nổi. Cũng lại như thế, danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật có thể giúp Bồ-Tát Sơ phát tâm trụ vững tất cả hạnh nguyện, các món ba-la-mật, bốn món vô-sở-úy, thọ ký, cúng dường ... mà tất cả pháp môn khác thì chẳng có công năng nầy, tất cả hạnh tu khác thì chẳng có lực dụng này.

Nầy Phật tử, danh hiệu Nam-mô A-Di-Đà Phật hiển thị vô lượng vô biên cho đến bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết công đức thù thắng như vậy. Ta dẫu biến hiện hằng hà sa thân tướng trong vi trần sát quốc độ trải qua muôn ức na-do-tha đại kiếp, để xưng tán thì cũng không cùng tận.

Ngài Đại Bồ-Tát Phổ-Hiền ở trước đức Như-Lai tuyên thuyết ý nghĩa và xưng tán công đức của danh hiệu Phật vừa xong, cả thảy đại chúng đều đắc Vô-lậu Công-đức Đà-ra-ni. Trưởng giả Diệu-Nguyệt cùng chư vị Bồ-Tát sơ phát tâm đều chứng được Niệm Phật Tam-muội, tất cả chư Bồ-Tát mười phương đều đắc Hồng-danh Công-đức Tạng.
Khi ấy, trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha Mạn-thù-sa, để rải cúng dường đức Như-Lai cùng hết thảy chúng hội đạo tràng.

(Hết phẩm thứ 4)
Dịch Việt: HT. Thích Thiền Tâm

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

KINH ĐẠI BI - Phẩm 14 GIÁO HUẤN

KINH ĐẠI BI

Tam tạng pháp sư Na Liên Đề Da Xá, người nước Thiên-trúc, dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Cao-Tề (Bắc-Tề, 550-577).
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2016.




Phẩm 14
GIÁO HUẤN

Lúc bấy giờ tôn giả A Nan bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Nay chúng con tu hành Pháp Nhãn như thế nào? Nếu chúng con tu hành Chánh Pháp Nhãn của Phật, làm thế nào để có trường cửu ở thế gian và lưu bố rộng rãi trong khắp các hàng trời, người? Bạch đức Thế Tôn! Chúng con kết tập Pháp Nhãn như thế nào? Diễn nói ra sao?”
Đức Phật dạy:

“Này A Nan! Sau khi Như Lai diệt độ, có chúng đại đức tì-kheo tụ họp để kết tập Kinh Luật, do đại đức Đại Ca Diếp làm thượng thủ. Này A Nan! Lúc bấy giờ chúng đại đức tì-kheo kia sẽ hỏi như thế này: [Đức Thế Tôn nói kinh Thí Dụ ở đâu? Nói kinh Nhân Duyên ở đâu? Nói đại tập pháp ở đâu? Nói ngũ pháp, tam pháp ở đâu? Chư thiên đến hỏi đạo ở đâu? Trời Đế Thích đến hỏi đạo ở đâu? Chư thiên giáng hạ nơi nào? Nói kinh Phạm Võng ở đâu?] Tuần tự như thế.

“Chúng đại đức tì-kheo kia lại hỏi thầy như sau: [Thưa tôn giả A Nan! Đức Thế Tôn nói Khế Kinh ở đâu? Nói Trùng Tụng ở đâu? Nói Kí Biệt ở đâu? Nói Cô Khởi ở đâu? Nói Tự Thuyết ở đâu? Nói Nhân Duyên ở đâu? Nói Bản Sự ở đâu? Nói Bản Sinh ở đâu? Nói Phương Quảng ở đâu? Nói Thí Dụ ở đâu? Nói Vị Tằng Hữu ở đâu? Nói Luận Nghị ở đâu? Thưa tôn giả A Nan! Đức Thế Tôn nói tạng Thanh Văn ở đâu? Đức Thế Tôn nói tạng Duyên Giác ở đâu?  Đức Thế Tôn nói tạng Bồ Tát ở đâu?]

“Này A Nan! Chúng đại đức tì-kheo kia hỏi như thế rồi, thầy nên trả lời như vầy:

[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật mới thành Chánh Giác, đang ngự tại cội cây Bồ-đề, nước Ma-kiệt-đà…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại thành Già-da…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại cội cây Ni-câu-đà, xứ Tu-khổ- hạnh, nước Ma-kiệt-đà…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn Lộc-giã, gần thành Ba-la-nại…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại núi Kì-xà-quật…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại núi Tì-phú-la…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại núi Bính-đề-ha, nước Ma-kiệt-đà…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại tảng đá vuông đen trong núi Tiên-nhân, thành Vương-xá…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại tu viện Cấp-cô-độc trong vườn cây Kì-đà, gần thành Xá-vệ…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn cây Am-la, thành Tì-xá-li…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại giảng đường Trùng-các trong tinh xá Đại-lâm, bên bờ ao Nhĩ-hầu, thành Tì-xá-li…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự bên bờ ao Yết-già, thành Chiêm-ba…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại đỉnh núi Già-da, thành Già-da…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn Cù-sư-la, nước Siểm-di…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn A-du-xà trong rừng Ca-la-ca, thành Ta-chỉ-đa…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn Ni-câu-đà, ở ngoại ô thành Ca-tì-la, trú xứ của dòng họ Thích-ca…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại vườn Cưu-cưu-tra, thành Ba-li-phất…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Tần-đà, gần thành Ma-du-la…..
[Đây là những điều chính tôi được nghe: Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, bên bờ sông A-lị-la-bạt-đề, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ…..]

“Này A Nan! Tuần tự như thế, chỗ này chỗ khác, những nơi Như Lai đã nói pháp; chỗ này chỗ khác, những nơi đại chúng đã tụ họp; tùy theo thời tiết, tùy theo nghĩa lí câu nói, tùy theo nhân duyên phát khởi cuộc vấn đáp; tùy theo vì người mà nói hay vì sự việc mà nói, nhằm phân biệt rõ ràng trí biết của đối tượng nói pháp; tùy theo ý vị của danh xưng, nghĩa lí của câu nói mà tuần tự diễn nói mọi thứ; tùy theo đầu mối có nhân có duyên, nghĩa khéo ý hay, rộng rãi vì người mà nói. Và kết kinh như vầy: [Phật nói kinh này rồi, tất cả đại chúng đều hoan hỉ, và ghi nhớ, hành trì.]
“Này A Nan! Thầy cứ theo cách đó mà kết tập Pháp Nhãn, hãy phân biệt mọi thứ như thế mà diễn nói rõ ràng.”

Đức Phật dạy xong những lời như trên, đại địa liền chấn động sáu cách rất dữ, làm cho nhiều người sợ sệt đến dựng tóc gáy. Ngay lúc bấy giờ, toàn cõi thế giới ba ngàn này chấn động sáu cách: phía Đông vọt lên, phía Tây chìm xuống; phía Tây vọt lên, phía Đông chìm xuống; phía Nam vọt lên, phía Bắc chìm xuống; phía Bắc vọt lên, phía Nam chìm xuống; chính giữa vọt lên, ngoài biên chìm xuống; ngoài biên vọt lên, chính giữa chìm xuống; và hiện rõ mười tám tướng trạng: rung động, rung động khắp, rung động đều khắp, vọt lên, vọt lên khắp, vọt lên đều khắp, vang rền, vang rền khắp, vang rền đều khắp, gầm thét, gầm thét khắp, gầm thét đều khắp, khởi lên, khởi lên khắp, khởi lên đều khắp, thức tỉnh, thức tỉnh khắp, thức tỉnh đều khắp.

Cũng ngay lúc ấy, vô lượng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Đế Thích, Phạm Thiên, Hộ Thế Thiên Vương, Người, không phải người, đều buồn khóc, nước mắt ràn rụa, than rằng: “Đức Thế Tôn nhập niết-bàn sớm quá! Đức Thiện Thệ nhập niết-bàn sớm quá! Con mắt của thế gian ẩn mất sớm quá! Con mắt của thế gian mù lòa mất đi sớm quá!”
Tôn giả A Nan cũng buồn khóc, chảy nước mắt than rằng: “Đức Thế Tôn nhập niết-bàn sớm quá! Đức Thiện Thệ nhập niết-bàn sớm quá! Con mắt của thế gian ẩn mất sớm quá! Con mắt của thế gian mù lòa mất đi sớm quá! Bậc Đạo Sư của thế gian ẩn mất sớm quá!”

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo:
“Này A Nan! Thầy chớ nên lo buồn! Tất cả pháp hữu vi, pháp sinh, pháp có, pháp phân biệt, pháp hiểu biết, pháp nhân duyên sinh, pháp hoại diệt, những pháp đó nếu không hủy diệt thì không có lẽ đó.
“Này A Nan! Trong thời gian lâu dài, thầy đã đem cả thân miệng ý từ hiếu hầu hạ Như Lai, một lòng một dạ, luôn luôn an lạc, không giận không hờn, không oán than trách móc. Do đó mà thầy có được công đức lớn, và sẽ được thần thông lớn, như cam lồ bậc nhất trong cùng tận cam lồ.

“Vì vậy cho nên, này A Nan! Đối với các bậc tu hành phạm hạnh, thầy cũng nên đem thân miệng ý từ hiếu mà cung kính cúng dường; hãy học theo những điều Như Lai đã làm. Vì sao vậy? Này A Nan! Sau khi Như Lai diệt độ, trong đời vị lai, khi còn năm trăm năm nữa thì chánh pháp bị hủy diệt, lúc ấy, những người giữ giới, thực hành chánh pháp thì dần dần mất đi, còn những người phá giới, làm chuyện phi pháp thì đông đúc hưng thịnh. Người ta chỉ có hủy báng chánh pháp, mạng sống thì ngắn ngủi. Đó là thời kì chúng sinh hoại diệt, chánh pháp hoại diệt, tì-kheo tăng hoại diệt. Này A Nan! Đó là thời kì thật đáng sợ! Có các tì-kheo không tu thân, không tu tâm, không tu giới, không tu tuệ, chỉ tham đắm vào sáu thứ: bình bát, y phục, ăn uống, giường ghế, nhà cửa, và thuốc thang, thứ nào cũng phải thuộc loại thắng diệu. Họ lại còn tranh giành, kiện tụng, đem nhau lên cửa quan, miệng lưỡi chẳng khác nào dao kiếm. Họ phỉ báng nhau, ganh ghét nhau, tất cả đều chỉ vì y phục, bình bát, ăn uống, giường ghế, nhà cửa, thuốc thang. Tâm họ không còn thuần thục, mà chỉ ganh ghét nhau, đối xử với nhau bằng tâm dơ bẩn.

“Vì vậy cho nên, này A Nan! Đối với các bậc tu hành phạm hạnh, thầy nên đem thân miệng ý từ hiếu mà đối xử, nên cúng dường đầy đủ những vật dụng cần yếu. Đối với những bậc tu hành phạm hạnh, hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tin, hoặc làm, không được gây não loạn. Nên tu học như thế! Vì sao vậy? Này A Nan! Đó là thời kì thật đáng sợ, đầy dẫy dơ bẩn: mạng sống dơ bẩn, số kiếp dơ bẩn, chúng sinh dơ bẩn, thấy biết dơ bẩn, phiền não dơ bẩn; con người lúc đó phải chịu đau khổ vô cùng, luôn luôn bị các nỗi khổ làm cho bức não, bị đói khát cùng cực, bệnh tật triền miên, giặc cướp hoành hành, hạn hán trầm trọng, nạn nước ngập tràn, trùng độc bức hại.

“Này A Nan! Lúc bấy giờ, các vị bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, tuy cũng phải chịu chung những nỗi đau khổ ấy, nhưng do đã từng có lòng tin thanh tịnh, cung kính tôn trọng Phật Pháp Tăng, luôn luôn giữ vững lòng tin sâu sắc. Lòng tin Phật Pháp Tăng này chính là nhân duyên tốt, khiến cho họ vừa gặp các vị tì-kheo thì liền phát sinh niềm tin sâu sắc. Họ cúng dường và tạo nhiều công đức. Họ thọ trì giới cấm, đọc tụng kinh điển, vì người mà giảng nói. Những người được nghe pháp đều rất hoan hỉ và tỏ lòng quí kính đối với họ. Họ y theo giáo pháp mà tu hành để trồng căn lành. Do căn lành đó mà sau khi mạng chung, họ được sinh về các cõi lành Trời và Người.

“Này A Nan, thầy hãy xem đó! Các vị tì-kheo xấu ác kia, do lòng tin mà bỏ nhà đi xuất gia; nhưng khi đã được xuất gia rồi thì lại tham đắm sáu thứ y, bát, vân vân, phải đọa vào ba đường ác. Còn người cư sĩ tại gia, vì bị đau khổ bức não nên khởi tâm kính tin Phật Pháp Tăng, do lòng tin đó mà trồng được căn lành, được sinh về các cõi lành. Vì vậy cho nên, này A Nan! Hãy giữ đúng luật nghi cho thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp! Hãy quán niệm như thế này: [Tôi nguyện sớm có được đầy đủ tâm kính tín! Tôi nguyện sớm có được đầy đủ tâm chánh trực! Tôi nguyện tâm ý lúc nào cũng suy nghĩ đến điều lành!] Vì sao vậy? Này A Nan! Nếu không luôn suy nghĩ đến điều lành thì thân miệng ý sẽ tạo ra năm tội lỗi: 1) nói dối, 2) nói hai lưỡi, 3) nói lời thêu dệt, 4) tham dục, 5) sau khi chết phải đọa lạc vào ba đường dữ. Này A Nan! Người luôn suy nghĩ đến điều lành sẽ được công đức và năm lợi ích: 1) không nói dối, 2) không nói hai lưỡi, 3) không nói lời thêu dệt, 4) không tham dục, 5) sau khi mạng chung sẽ được sinh về các cõi lành Trời và Người. Lại nữa, này A Nan! Nếu người vì tranh giành mà thóa mạ hủy báng nhau, tâm không nhu hòa, tâm dơ bẩn biến hoại, thì người ấy sẽ tạo ra năm tội lỗi: 1) nói dối, 2) nói hai lưỡi, 3) đối với người giữ giới không sinh lòng kính tin, 4) tâm ý ác độc, ngày đêm lo âu khổ não, 5) sau khi mạng chung sẽ đọa vào ba đường dữ.

Này A Nan! Nếu lại có người luôn an trú trong tâm từ thiện, sẽ được công đức và mười một lợi ích: 1) có giấc ngủ an ổn, khi thức dậy tâm liền hoan hỉ, 2) không có ác mộng, 3) được loài người và những loài không phải người quí mến, 4) được chư thiên ủng hộ, 5) các chất độc không làm hại được, 6) binh khí không gây thương tổn được, 7) lửa không thể thiêu đốt, 8) nước không thể nhận chìm, 9) thường có đủ các vật dụng cần yếu như y phục, ăn uống, giường ghế, thuốc thang, 10) có được phong cách của bậc thượng nhân, 11) sau khi mạng chung sẽ được sinh lên cõi trời Phạm-thiên. Này A Nan! Người luôn an trú trong tâm từ thiện sẽ được công đức và mười một lợi ích như thế.

“Vì vậy cho nên, này A Nan! Dù ở lúc Như Lai còn tại thế, hay sau khi Như Lai đã diệt độ, quí thầy hãy tự thắp sáng ngọn đèn chánh pháp cho chính mình, hãy tự làm chỗ quay về nương tựa cho chính mình; đừng nên mong cầu ngọn đèn nào khác, đừng nên mong cầu chỗ quay về nào khác!

“Này A Nan! Thế nào là vị tì-kheo tự thắp sáng ngọn đèn chánh pháp cho chính mình, tự làm chỗ quay về nương tựa cho chính mình; thế nào là không mong cầu ngọn đèn nào khác, không mong cầu chỗ quay về nào khác? Này A Nan! Nếu có vị tì-kheo tuần tự quán chiếu nơi thân mình một cách chuyên cần tinh tấn, một niệm không loạn động, dứt trừ tâm tham ái, ưu phiền đối với thế gian; quán chiếu nơi thân mình như thế, rồi quán chiếu nơi cảm thọ, nơi tâm thức, nơi các pháp cũng như thế, một cách chuyên cần tinh tấn, một niệm không loạn động, dứt trừ tâm tham ái, ưu phiền đối với thế gian; này A Nan! Như thế là vị tì-kheo tự thắp sáng ngọn đèn chánh pháp cho chính mình, tự làm chỗ quay về nương tựa cho chính mình, không mong cầu ngọn đèn nào khác, không mong cầu chỗ quay về nào khác.

“Vì vậy cho nên, này A Nan! Như Lai là bậc Đạo Sư, đối với hàng Thanh-văn, những gì cần làm Như Lai đã làm xong. Quí thầy cũng cứ theo như thế mà làm. Đó là giáo huấn của Như Lai. Quí thầy nên ở nơi tịch tĩnh, nơi bãi tha ma, nơi bãi đất trống, nơi nhà vắng, mà nhất tâm tu tập phép chỉ quán, suy nghĩ đến việc chấm dứt cội gốc khổ đau, chớ có buông lung! Nếu quí thầy buông lung, về sau chắc chắn phải ưu phiền, hối hận.!”

Đến đây đức Phật liền nói kệ rằng:
“Như Lai đã chỉ con đường chánh
Đã nhổ các mũi tên vô trí
Quí thầy nên chuyên cần tu tập
Theo giáo pháp chư Phật đã nói
Nhằm gột sạch mọi thứ kiến chấp
Ngoài ra không con đường nào khác
Người nào tu thì được giải thoát
Có thể dứt trừ các ma nghiệp
Nếu ai tu hành theo con đường
Đúng như chư Phật đã chỉ dạy
Chắc chắn vượt thoát mọi khổ ách
Đầy đủ nguyện lực của chư Phật”

Đức Phật nói kinh này xong, tôn giả A Nan cùng chư vị tì-kheo, các chúng từ các nơi đến, các chúng Trời, Người, A-tu-la, Càn-thát-bà, vân vân tất cả thế gian, nghe Phật dạy xong, tùy theo tâm trạng mà người vui kẻ buồn, chắp tay cúi đầu, buồn đau rơi lệ, đấm ngực khóc lóc; tất cả đều ghi nhớ và hành trì.

HẾT

(Kinh Đại Bi, cư sĩ Hạnh Cơ trích dịch từ Tạng Đại Chánh, quyển 12, kinh số 380, trang 945-973)
Ghi chú của người dịch

1) Kinh Đại Bi (Maha-karuna-pundarika) ghi lại những lời dạy cuối cùng của đức Phật trước giờ phút nhập niết-bàn. Nội dung của những lời dạy này, điều vô cùng quan trọng mà đức Phật đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, là các đệ tử của Phật, từ đời này qua đời nọ, phải nối tiếp nhau truyền bá chánh pháp, làm cho chánh pháp lưu bố rộng rãi khắp các cõi Trời, Người, và tồn tại lâu dài ở thế gian, đem lại lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sinh. Muốn thực hiện được công việc trọng đại đó – hoằng hóa độ sinh – các đệ tử Phật phải dũng mãnh phát tâm ĐẠI BI, tức lòng thương rộng lớn, muốn cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi bể khổ sinh tử, chứng nhập cảnh giới niết-bàn an vui tịch tĩnh. Đó là ý nghĩa của tên kinh “Đại Bi”. Kinh này đã được pháp sư Na Liên Đề Da Xá (Narendrayasas, 490-589), người nước Thiên-trúc, dịch từ Phạn văn ra Hán văn vào năm 570, tại kinh đô Nghiệp-thành của nước Bắc-Tề (550-577), Trung-hoa, được thu vào Tạng Đại Chánh, quyển 12, mang số 380, trang 945-973.

2) Có vài độc giả nêu thắc mắc rằng: Tôn giả La Hầu La đã viên tịch trước đức Thế Tôn, tại sao trong kinh Đại Bi này tôn giả vẫn có mặt trong giờ phút đức Thế Tôn sắp nhập niết-bàn?
Chúng tôi xin thưa: Đây thuộc về vấn đề lịch sử. Các nhà nghiên cứu sử học đều công nhận rằng, người Ấn-độ thời xưa rất ít quan tâm đến vấn đề sử học, cho nên, muốn biết chắc chắn một sự kiện, dù quan trọng hay không, xảy ra đúng vào thời điểm nào, đó là việc vô cùng khó khăn. Trường hợp tôn giả La Hầu La ở đây là một thí dụ điển hình. Tôn giả nhập diệt vào lúc nào? Trong tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, pháp sư Tinh Vân (Đài-loan) viết: “Trước hết, ngay như về ngày sinh của tôn giả cũng đã có hai thuyết, một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật mười chín tuổi; một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật hai mươi lăm tuổi. Cho nên về niên đại nhập diệt, hiện cũng có hai thuyết, một bảo rằng tôn giả đã nhập diệt trước Phật vài năm; một bảo rằng trong giờ phút Phật nhập niết bàn, tôn giả vẫn có mặt bên cạnh Phật.” (Xin xem sách Mười Vị Đệ Tử Lớn của Phật, bản Việt dịch của cư sĩ Hạnh Cơ, có đăng trên các trang mạng Phật giáo: Pháp Vân, Quảng Đức, Hoa Vô Ưu, Thư Viện Hoa Sen.)

3) Có một độc gỉa yêu cầu giải thích chữ “kiếp”.
Thông thường chúng ta hay nói: kiếp trước, kiếp này, kiếp sau, v.v… Chữ “kiếp” ở đây có nghĩa là một đời người trong khoảng mấy chục hay một trăm năm, kể từ ngày sinh ra đời cho đến ngày chết. Trong kinh điển Phật giáo, chữ “kiếp” được dùng với ý nghĩa khác hẳn, không phải là một trăm năm, và không phải là quá ngắn ngủi như thế.

“Kiếp” là tiếng nói tắt của Phạn ngữ “kiếp-ba” (kalpa); dịch ra Hán ngữ là “thời phần” hay “đại thời”, nghĩa là một khoảng thời gian rất dài, không thể nào dùng số ngày, tháng, năm thông thường mà đếm được. Kiếp có đại, trung và tiểu khác nhau. Các kiếp đại, trung hay tiểu này đều y nơi mạng sống tăng và giảm của con người mà tạm tính toán. Theo như luận Đại Trí Độ nói, thọ mạng của con người từ mười tuổi, cứ mỗi một trăm năm tăng một tuổi, tăng cho đến tám vạn bốn ngàn tuổi thì ngưng; rồi lại cứ một trăm năm giảm một tuổi, giảm cho đến còn mười tuổi thì ngưng; một lần tăng và một lần giảm như vậy là một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Trải qua bốn trung kiếp Thành, Trụ, Hoại và Không (hoặc tám mươi tiểu kiếp) là một đại kiếp. Đó là thời gian của một thế giới từ lúc hình thành cho đến lúc hủy diệt.

Vậy:
- Một tiểu kiếp = (84000 - 10) x 100 x 2 = 16.798.000 năm.
- Một trung kiếp=20 tiểu kiếp=16798000x20=335.960.000 năm.
- Một đại kiếp=4 trung kiếp=335960000x4=1.343.840.000 năm.

4) Có Quí Vị hỏi về một số thuật ngữ Phật học trong kinh này, như: hành, niết-bàn, na-do-tha, bốn cách thu phục (tứ nhiếp pháp), bốn đức không sợ sệt (tứ đức vô úy), mười tám pháp không cùng chung (thập bát bất cộng pháp), ba mươi bảy pháp trợ đạo (tam thập thất trợ đạo phẩm), v.v… Xin Quí Vị vui lòng tham khảo ở các sách như Trích Lục Từ Ngữ Phật Học, Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản, do Hạnh Cơ biên soạn (có đăng trên các trang mạng Phật giáo: Pháp Vân, Quảng Đức, Hoa Vô Ưu, Thư Viện Hoa Sen), hoặc các bộ Từ Điển Phật Học khác.
Xin chân thành cám ơn Quí Vị.

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

Câu chuyện chiếc bình nứt

Câu chuyện chiếc bình nứt












Hồi ấy có một người gánh nước, mang hai chiếc bình ở hai đầu một cái đòn gánh trên vai. Một trong hai bình ấy bị vết nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo, luôn mang về đầy một bình nước. Cuối đoạn đường dài, từ con suối về nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn một nửa bình nước. Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về có một bình rưỡi nước.

Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó. Nó luôn hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà nó được tạo ra. Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó xấu hổ về khuyết điểm của mình, nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc mà nó phải làm. Trong hai năm nó phải chịu đựng cái mà nó cho là thất bại chua cay.

Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước bên bờ suối: “Con thật là xấu hổ vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác”. Người gánh nước trả lời: “Con không để ý thấy chỉ có hoa mọc bên đường phía của con à ?. Đó là vì ta luôn biết khuyếm khuyết của con nên đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con và mỗi ngày đi về con đã tưới nước cho chúng…  Hai năm nay, ta vẫn hái được nhiều hoa đẹp để trên bàn. Nếu mà con không phải là con như thế này, thì trong nhà đâu thường xuyên có hoa đẹp để thưởng thức như vậy”.

Mỗi người trong chúng ta đều có những nhược điểm rất riêng biệt.  Ai cũng là chiếc bình nứt cả.  Nhưng chính vết nứt và các nhược điểm đó mới khiến cho đời sống chung của chúng ta trở nên phong phú, trở nên thú vị và làm chúng ta thoả mãn.  Chúng ta phải biết chấp nhận cá tính của từng người trong cuộc sống và tìm cho ra cái tốt của họ.

Vạn sự hạnh phúc cho tất cả các bạn “Bình nứt” của tôi !

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Người Phật Tử những điều không nên làm khi tới chùa

Người Phật Tử những điều không nên làm khi tới chùa
Quảng Thành
be-di-le-chua
Chùa chiền là chốn Thiền môn thanh tịnh, là ngôi nhà giáo pháp che chở cũng như nuôi lớn tình thương, khơi nguồn trí tuệ và giúp chúng ta giải phóng những nỗi khổ niềm đau trong cuộc đời. Vì thế, người Phật tử tại gia, khi tới chùa không nên làm những điều sau:

1- Không nên quá gần gũi, chuyện trò thân mật với chư Tăng Ni.
 Vì như thế đôi khi mình xem thường chư Tăng Ni, hoặc nảy sinh tình cảm riêng tư.

 2- Không nên một mình (khác giới tính) cố tình gặp gỡ, thưa thỉnh giáo pháp với chư Tăng Ni ở chỗ khuất hoặc nơi không có người.
 Vì như thế sẽ dễ gây ra sự hiểu lầm về tình cảm.

 3- Không nên kết nghĩa anh em, chị em, cha con, mẹ con với chư Tăng Ni. 

 Vì chư Tăng Ni đã "cắt ái từ thân" để xuất gia tu hành. Nếu mình làm như vậy có nghĩa là đẩy chư Tăng Ni vào thế bất hiếu với cha mẹ ruột, bất nghĩa với anh em ruột. Bởi đã làm con phải có bổn phận báo hiếu và đền ơn.

 4- Không nên vì quá thân mà có những hành động như nắm tay, sửa áo cho chư Tăng Ni.

 Vì như thế dễ gây ra cảm thọ thích thú trần tục.

 5- Không nên ngồi trực diện rồi nhìn một cách đắm đuối, say mê vào mắt của chư Tăng Ni trong khi nói chuyện.
 Vì như thế nhãn xúc của mình sẽ sinh ra cảm thọ, rồi thọ sinh ra ái, tức thích ngắm, dễ gây ra sự muốn nắm giữ. Đó là ái sinh thủ!

 6- Không nên thường xuyên gọi điện, chat chít hoặc liên lạc bằng bất cứ hình thức nào với chư Tăng Ni.

 Vì như thế sẽ tạo thành thói quen. Nếu không chuyện trò được sẽ cảm thấy khó chịu. Đôi khi vì thương mình nên chư Tăng Ni phải cố gắng cầm máy cho mình vui. Nhưng nếu lâu ngày cũng sẽ dẫn đến thói quen không nên có.

 7- Không nên nhắc tới chư Tăng Ni một cách thao thao bất tuyệt trước mặt vợ hoặc chồng mình khi họ chưa phải là Phật tử.
 Vì như thế dễ gây nên sự hiểu nhầm, thậm chí là ghen tuông vô cớ làm mất hoà khí gia đình.

 8- Không nên không cung kính cha mẹ như cung kính chư Tăng Ni khi thỉnh mời chư Tăng Ni về nhà mình có duyên sự, hay dẫn cha mẹ vào chùa.
 Vì như thế sẽ làm cha mẹ buồn khi cha mẹ chưa biết về đạo Phật. Nên nhớ, cha và mẹ chính là hai vị Phật ở trong nhà để chúng ta cung dưỡng suốt đời.

 9- Không nên vì được chư Tăng Ni tin tưởng giao phó công việc mà tỏ thái độ khinh khi người khác.
 Vì như thế là mình đang lạm dụng quyền lực để hà khắc người khác. Như vậy chính mình đang tự chuốc lấy bệnh kiêu căng!

 10- Không nên nhận lãnh trách nhiệm lo toan việc ẩm thực, bếp núc ở trong chùa.

 Vì sao?  Vì nhà bếp là đầu mối lớn nhất gây ra sự mâu thuẫn, chia bè, rẽ cánh trong đạo tràng. Bởi những người nhận lãnh công việc này đôi khi vì áp lực công việc nhiều nên dễ sinh tâm cáu gắt, bực dọc. 
 
Đôi khi vì tính bảo thủ, không nghe những lời góp ý của người khác nên sinh tâm cố chấp. Đôi khi thấy mình là người quan trọng nên sinh tâm kiêu mạn, coi thường người khác. Thậm chí kể cả chư Tăng Ni trẻ ở trong chùa. Trên thực tế đã xảy ra trường hợp nhà bếp biểu tình nên cả chùa hôm đó phải ăn mỳ gói.

Biết được nguyên nhân như thế nên nhiều chùa không giao phó công việc này cho giới cư sỹ. Mọi việc bếp núc đều do chư Tăng Ni trong chùa đảm trách. Ai có lòng thì phụ giúp công quả một tay. Vì vậy không còn sự mâu thuẫn hay cãi cọ sinh ra từ nhà bếp.

 11- Không nên mang thực phẩm mặn vào chùa (bắc truyền) bằng bất cứ hình thức nào.

 Vì như thế là mình đang làm hư hoại giáo pháp, phỉ báng giáo pháp, đồng hành với việc dung túng cho việc phá giới.

  12- Không nên chấp rằng đây là chùa tôi, thầy của tôi, rồi sinh tâm phân biệt, so sánh, thậm chí là dèm pha đối với chư Tăng Ni hoặc bạn đạo ở các chùa khác.
 Nên nhớ, Tăng là một đoàn thể tu hành thanh tịnh gồm bốn vị trở lên. Mỗi khi chúng ta đã phát nguyện rằng: Tự quy y Phật, tự quy y Pháp và tự quy y Tăng, tức là chúng ta đã tự quy y với tất cả chư Tăng Ni trong khắp mười phương. Sau khi quy y trở thành Phật tử cũng đồng nghĩa tất cả là con một nhà.

 13- Không nên thấy người khác thân cận chư Tăng Ni bấy lâu mình cung kính và cung dưỡng mà sinh tâm ganh tị.
 Vì như thế là mình đang dính mắc thói hẹp hòi và ích kỷ.

 14- Không nên mặc đồ hở hang, cụt cỡn khi tới chùa. Ví dụ như:

 - Không nên mặc áo bó sát người làm cho vòng 1 nổi bật.

 - Không nên mặc áo rộng cổ, làm lộ rõ những đường nét của phần trên cơ thể.

 - Không nên mặc áo xẻ tà quá cao để khoe phần hông sườn.

 - Không nên mặc quần cộc bên trong rồi khoác áo tràng bên ngoài. Mỗi khi ngồi xuống hay đứng lên đều tạo ra sự kịch cỡm không đẹp mắt.

 - Không nên mặc áo quá ngắn và quần cạp trễ. Để rồi mỗi khi mình cúi lạy hoặc làm việc gì đó thì hở hết phần mông ra ngoài, rất dễ gây phản cảm cho mọi người xung quanh.

 - Không nên mặc các loại quần áo quá mỏng rồi đi lại hoặc đứng ở trước các lối cửa ra vào có nhiều ánh sáng. Vì từ góc tối nhìn ra, cơ thể mình sẽ bị "hiện rõ nguyên hình" giống như kính chiếu yêu vậy.

 Vì như thế sẽ làm mất đi vẻ đẹp mỹ quan thanh tịnh chốn thiền môn.

 Vì như thế mình sẽ trở thành người không biết sự xấu hổ.

 Vì như thế mình đang đánh mất đi nét thuần phong mỹ tục truyền thống.

 15- Không nên mang chuyện thị phi vào chùa để đàm tếu, phù phiếm. 
 Vì chùa là nơi thanh tịnh trang nghiêm, là môi trường tốt để học tập và tu dưỡng các điều đạo đức. Chính vì thế cho nên mình hãy cùng nhau gìn giữ và bảo vệ thật tốt, xin  đừng làm ô nhiễm môi trường thanh tịnh đó.

 16- Không nên cho rằng mình là người Phật tử đi chùa và phụng sự lâu năm ở đây mà tranh giành chỗ ngồi tốt với những người khác. 
 Vì như thế là đang rơi vào sự "tu càng lâu, ngã mạn càng nhiều".

 17- Không nên tự ý xông thẳng vào phòng, thất của chư Tăng Ni mà không gõ cửa hoặc chưa được phép.
 Vì như thế là mất lịch sự và không tôn trọng quyền riêng tư.

 18- Không nên nói lời thô tục, nói lời đưa đẩy nịnh hót, nói lời trăng hoa, nói lời phù phiếm, nói lời hung dữ, ngữ điệu khó nghe, làm náo loạn sân chùa.

 Vì như thế là đang tạo ra khẩu nghiệp xấu ác tại nơi thanh tịnh.

 19- Không nên cùng một lúc thắp hương (nhang) quá nhiều trong chánh điện.

 Vì như thế tượng Phật và chánh điện sẽ nhanh bị hoen ố bởi khói hương, dẫn đến việc tốn tiền, tốn công, tốn sức của nhà chùa phải sơn sửa lại. Ngoài ra còn dễ gây hoả hoạn.

 20- Không nên ganh tỵ với những người bạn đạo khi thấy họ cúng dường Tam Bảo nhiều hơn mình. Khả năng bao nhiêu thì cúng dường bấy nhiêu, đừng cố gắng vay mượn để cúng dường Tam Bảo cho bằng chị bằng em, để rồi phải mắc nợ.

 Vì trước khi cúng, trong khi cúng và sau khi cúng, dù ít dù nhiều, khi tâm chúng ta được thanh tịnh và hoan hỷ thì phước báu như nhau.

 21- Không nên ỷ vào mình là một trong những đại thí chủ rồi tự cho mình có tiếng nói và quyền hành quan trọng nên bắt buộc chư Tăng Ni phải chiều theo ý mình. Nếu không chiều theo thì mình bỏ chùa và không còn tiếp tục đóng góp nữa.

 Vì như thế là tâm tham đắm danh vọng và lòng kiêu mạn đang nổi lên.

 22- Không nên ỷ vào việc mình lập chùa, thỉnh mời chư Tăng Ni về trụ trì, rồi tự cho mình được quyền tổ chức, quản lý nhất cử nhất động của chư Tăng Ni (đặc biệt ở hải ngoại).

 Vì như thế mình đang trở thành "ban trị Sư", cầu danh, cầu lợi bất chính.

 23- Không nên mải mê với các việc Phật sự, công quả hay công phu trong chùa mà lơ là công việc, bổn phận và trách nhiệm trong gia đình.
 Vì như thế là mình đang rơi vào tình cảnh "đạo muốn dời mà đời không muốn bỏ". Làm cho cha mẹ, vợ chồng, con cái buồn lo. Vẫn còn đó những điều không nên làm khi tới chùa. Kính mong quý Ngài, chư vị minh đức soi sáng thêm cho chúng con. Để chúng con, những người tại gia học Phật góp phần giữ gìn và tôn vinh thêm nét đẹp thanh tịnh ở chốn Thiền môn.

 Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát!

Viếng Thăm Tu Viện Hộ Pháp

Viếng Thăm Tu Viện Hộ Pháp
Gđ Cát Tường lần đầu tiên viếng thăm Tu Viện Hộ Pháp sau gần 20 năm định cư tại Cali Hoa Kỳ

Viếng Thăm Tu Viện Hộ Pháp

Được duyên lành, Cát Tường cùng gia đình về Tu Viện Hộ Pháp tại địa chỉ 3048 Lashbrook Avenue, El Monte, CA 91733 thăm Thầy cựu cố vấn giáo hạnh Gia Đình Phật Tử Long Hoa, Galang, Thích Nhuận Đạt, và trong dịp viếng thăm Thầy Cát Tường cũng vui mừng gặp được chị hai Tâm Thuận Mỹ Hạnh. 

Đây là lần đầu tiên Cát Tường đến tu viện của Thầy, tu viện của thầy không lớn như những tu viện khác mà con đã viếng thăm, nhưng cách trang trí chăm sóc rất đầy đủ hương vị đạo từ và trang nghiêm.  Đứng chung quanh khuông cảnh của tu viện, con có cảm giác thật an lành và ấm cúng, như bên con luôn luôn có sự dìu dắc đùm bọc che chở thương yêu của Thầy và chị Trưởng.
Khi vào trong chánh điện, Cát Tường cảm nhận được sự trang nghiêm  và thu nhiếp từ nơi Tôn Tượng Đức Từ Phụ Bổn Sư, tự động con chấp tay và khấn niệm danh hiệu của ngài.  Cát Tường buộc miệng hỏi:  “Thầy ơi, sao con cảm giác ở trong chánh điện trang nghiêm an lạc quá?”  Thầy chỉ mĩm cười và trả lời với đệ tử: “Vì nơi đây Phật Điện được Đại chúng trì tụng kinh mỗi ngày nên có oai đức khiến cho con cảm nhận được như vậy.”  Đã lâu rồi, con mới tìm lại được cho mình nụ cười hồn nhiên không lo lắng ưu tư.

Đặc biệt, là phòng Thiền Đường nơi trà đạo.  Thầy tự mình xây cất và còn trang trí theo kiến trúc của người Nhật, trông rất xinh gọn gàng và có thể chứa được rất nhiều người.  Thầy dạy rằng, ngày nào anh chị em (ACE) Gia Đình Phật Tử Long Hoa ở miền Nam Cali về đây thì Thầy sẽ giảng pháp cho nghe và thâu lại bài giảng rồi gởi lên egroup cho ACE Long Hoa ở xa cùng nghe.   Thầy còn hứa khi nào Thầy lên miền bắc Cali sẽ thăm ACE mình trên đó.  Cát Tường mừng lắm!  Khi đàm thoại với Thầy, Cát Tường có cảm giác là Thầy đang tìm cách giải quyết vấn đề cho ACE con, như một bác sĩ đang tìm toa thuốc cho bịnh nhân.

Chuyện mà con vui mừng nhất là được biết Thầy có tư tưởng mới lạ với cách giảng dạy và truyền trao Phật Pháp bằng phương tiện internet và Thầy đã đặt tên là Tu Viện Hộ Pháp “Trên Không” (không gian) mà bất cứ ai ở nơi phương trời xa xôi nào cũng có thể đến viếng được và gửi tâm hồn mình trên hư không qua khung chiếc máy điện toán computer tại nhà để vào thẳng ngôi Tu Viện tụng kinh và thính Pháp tu học như được sự giao cảm với Thầy và Đại chúng vậy.   Con nghĩ rằng, đây là một phương tiện hiện đại và hợp thời nhất cho số đông tuổi trẻ Phật Tử ở khắp thế giới.  Hy vọng Giáo Hội Phật Giáo chúng ta có thể phát huy và truyền bá rộng hơn bằng phương pháp ‘Trên không’ này, thay vì gọi là ‘trang nhà’ hay ‘trang web’ để cho biểu tướng Tam Bảo, mái chùa, và Pháp âm của Phật truyền đến mọi nơi.  Cho dù có ai đó đang ở tận nước Iran, Iraq hoặc Afghanistan, khi họ ngồi trước máy computer đánh vào chữ: HoPhap.Net thì họ liền có một “Ngôi Chùa Trên Không” rộng lớn bao la, là ngôi chùa của tâm linh đã hiện lên trước mặt.

Có một lần Cát Tường trong lòng cảm thấy bất an, Cát Tường ghé vào Tu Viện Hộ Pháp ‘trên không’ của Thầy, tình cờ đọc được bài ÔngTrưởng Giả Kén Rể (http://www.hophap.net/hp/dlpp.asp?act=XemChiTiet&Cat_ID=30&News_ID=430&LinksFrom=http://www.hophap.net/hp/dlpp.aspx).  Đọc xong, thấy lòng bình an nhẹ nhàn thoải mái.  Hy vọng các ACE không ở gần chùa và Thầy, có cơ hội viếng thăm Tu Viện Hộ Pháp ‘trong không’ của Thầy thường để được thấy sự nhiệm mầu của Phật Pháp. 

Kính,
Con Giác Thụy-Trần Ngọc Cát Tường
(Viết kính tặng Thầy Cựu Cố Vấn Giáo Hạnh, và cùng chia sẻ với các ACE)


Source:  http://www.hophap.net/hp/Default.asp?15659=5&596=57&759=476&59615=4


===============================
Không đơn thuần như là một trang nhà, đây là một ngôi Tu Viện "trên không," phòng ốc lớn nhỏ bao gồm hơn 70 gian.  Hằng ngày phải cần có nhiều thời gian mới có thể bao sái hết.   Ngôi Tu Viện Hộ Pháp này có sự chú nguyện bằng tâm lực mỗi khi update và cầu nguyện hằng ngày của Thượng Tọa Phương Trượng.  Bằng sự tín tâm Tam Bảo Thường Trụ khắp Pháp Giới, "hữu cầu tắc ứng", nếu bạn có duyên vào trong ngôi Tu Viện Hộ Pháp Trên Không này hằng ngày với tâm thanh tịnh để cầu nguyện,  học, tư duy, và thực tập Chánh Pháp thì nhất định sẽ cảm nhận được sự an lạc và sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn thay đổi trong tâm của bạn.

---Phương Trượng Tu Viện Hộ Pháp---

Ban Tri Khách E-Temple: HoPhap.Net

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 4 THÁNG 12, 2016)



Nam mô A-Di-Đà Phật _(())_ Đức Diệu Tường - HoPhap.Net Press
Nam mô A-Di-Đà Phật _(())_ Đức Diệu Tường - HoPhap.Net Press
TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (TUẦN THỨ 4 THÁNG 12, 2016)
TÂY TẠNG: Người Tây Tạng mừng lễ hội đèn bơ “Ganden Atsok”
Lhasa, Tây Tạng – Trong lễ thường niên tưởng niệm đại sư Phật giáo Tây Tạng Tsong Khapa, người Tây Tạng đã thắp đèn bơ và cầu nguyện suốt đêm.
Lúc 4 p.m. ngày 23-12-2016, chư tăng tập trung để cầu nguyện tại chùa Jokhang ở trung tâm thủ phủ Lhasa, Tây Tạng.
Hàng nghìn người hành hương và tín đồ đã tụ tập quanh chùa để tham gia cầu nguyện. Có hơn 8,000 chiếc đèn bơ được thắp sáng khắp nơi trong chùa.
Lễ “Ganden Atsok” được tổ chức vào ngày 25 tháng 10 âm lịch theo lịch Tây Tạng, là ngày Tsong Khapa viên tịch vào năm 1419. Ông là người thành lập phái áo vàng (Gelupga) của Phật giáo Tây Tạng.
Chư tăng tụng kinh để vinh danh ông, và tín đồ cầu nguyện cho hạnh phúc và sức khỏe.
Cùng ngày các tu viện Sera và Zhaibung ở Lhasa cũng tổ chức các nghi lễ tương tự. 
(NewsNow – December 24, 2016)
Đèn bơ được thắp sáng trong dịp Lễ “Ganden Atsok” của Tây Tạng
Photos: gettyimages & Google
ẤN ĐỘ: Đức Đạt lai Lạt ma khánh thành Viện Đại học Đạt lai Lạt ma
Tuần trước, Đức Đạt lai Lạt ma đã chính thức thánh hóa Viện Đại học Đạt lai Lạt ma tại thành phố Bengaluru tại bang Karnataka và chúc mừng các sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên của trường. Ngài cũng đặt viên đá đầu tiên cho một chi nhánh sẽ được xây dựng gần đó của Men-Tsee-Khang, Viện Y học và Thiên văn học Tây Tạng.
Viện Đại học Đạt lai Lạt ma là viện đại học Tây Tạng lưu vong duy nhất cung cấp các chương trình sau đại học thường xuyên cũng như chuyên ngành.
Là khách mời danh dự, Bộ trưởng Nội vụ bang Karnataka là Tiến sĩ Parmeshwar và Phó Hiệu trưởng danh dự của Đại học Mysore là K.S. Rangappa đã cùng cắt băng để đánh dấu việc chính thức khánh thành trường, với sự tham dự của khoảng 2,000 khách mời và người cúng dường.
(Buddhistdoor Global – December 24, 2016)
Viện Đại học Đạt lai Lạt ma (Ấn Độ)
Photo: Tenzin Choejor
MÃ LAI: Tổng thống Tích Lan hội kiếnVua Mã Lai và viếng chùa Phật giáo Brickfields
Kuala Lumpur, Mã Lai – Trong chuyến thăm Mã Lai 3 ngày kể từ ngày 15-12-2016, Tổng thống Tích Lan Maithripala Sirisena đã hội kiến Vua Mã Lai Muhammad Đệ Ngũ vào ngày 16-12 tại Cung điện của nhà vua.
Ngày 17-12, Tổng thống Sirisena và phái đoàn của mình viếng ngôi chùa Phật giáo Brickfields, gặp gỡ và thăm hỏi sư trưởng đương nhiệm của bản tự là Hòa thượng Kirinde Sri Dhammarathana. Vị Sư trưởng cùng chư tăng đã tụng kinh Pirith và chúc phúc cho Tổng thống.
Ngôi chùa Phật giáo Nguyên thủy Brickfields đã được thành lập bởi Phật tử Sinhala (Tích Lan) đang sinh sống tại Kuala Lumpur.
Hòa thượng Kirinde Dhammarathana được bổ nhiệm làm Trưởng Tăng đoàn Nayaka của Mã Lai vào năm 2007.
(Buddhist Channel – December 25, 2016)
Tổng thống Tích Lan Maithripala Sirisena hội kiến Vua Mã Lai Muhammad V (ảnh trên) và viếng chùa Phật giáo Nguyên thủy Brickfields (ảnh dưới)
Photos: Colombo Page
NHẬT BẢN: Kỹ thuật đặc biệt để tẩy rửa các tượng Phật
Sakai, Osaka – Công ty Buddha MayClean tại Phường Higashi ở thành phố Sakai, tỉnh Osaka, đang thu hút sự chú ý vì có kỹ thuật đặc biệt đối với việc tẩy trần cho các tượng Phật, bàn thờ và hiện vật dễ vỡ khác.
Tiến trình đơn giản của nó nhẹ nhàng tẩy đi đất bụi bằng cách sử dụng một chất tẩy rửa đặc biệt trước khi lau sạch bằng bọt.
Để làm sạch các tượng Phật, những người tạo tác hiện vật Phật giáo phải mất cả năm trời - do quá trình phức tạp của việc tháo rời chúng, lấy đi rồi lại phủ trở lại lớp vàng lá cho thân của tượng và sau đó lắp ráp lại tượng.
Nhưng đối với Buddha MayClean, việc làm sạch một pho tượng chỉ mất một ngày, vì sản phẩm của công ty này sử dụng không lấy đi lớp vàng lá theo cùng với bụi bẩn.
Công ty cho biết đã nhận nhiều đơn đặt hàng vào cuối năm nay và cũng được yêu cầu làm sạch các chuông chùa được gõ vào Giao thừa Năm Mới.
(The Asahi Shimbun – December 26, 2016) 

1                                             2

 
3                                                4
Một tượng Phật hàng trăm năm tuổi sáng như mới sau khi được Công ty Buddha MayClean tẩy sạch bụi bẩn vào dịp cuối năm
Photos: The Asahi Shimbun
ẤN ĐỘ: Hơn 5,000 người tầng lớp thấp (OBC) cải đạo sang Phật giáo
Ngày 25-12-2016, tại Nagpur, bang Maharashtra, hơn 5,000 người thuộc các tầng lớp thấp (OBC) đã cải đạo sang Phật giáo.
Buổi lễ tại Deekshabhoomi là đỉnh điểm của kế hoạch 5 năm do nhóm hoạt động xã hội Satyashodhak OBC Parishad có trụ sở tại Maharashtra thực hiện.
Kể từ năm 2011, khi đợt vận động tuyển chọn của nhóm bắt đầu, họ đã nhấn mạnh lịch sử của các OBC như là “nagrashis”, nghĩa là những Phật tử thời Trung cổ. Họ đã gọi sự kiện này là sự hồi gia (ghar wapsi) thực thụ.
Hầu hết những người cải đạo đến từ Maharashtra, mặc dù có khoảng từ 10 đến 20 người đại diện cho các bang trên khắp Ấn Độ cũng hiện diện. Bây giờ nhóm Satyashodhak OBC Parishad hy vọng sẽ mở rộng các hoạt động cải đạo trên toàn quốc, và sẽ bắt đầu các lớp học tôn giáo cho những người đã cải đạo vào ngày 25-12 nói trên.
(Scroll.in – December 27, 2016)
Lễ cải đạo sang Phật giáo của hơn 5,000 người tầng lớp thấp được tổ chức tại Nagpur, bang Maharashtra (Ấn Độ)
Photo: Scroll.in
Diệu Âm lược dịch


 Hoa Dâng Cúng Phật
THÔNG BÁO THAY THƯ MỜI


 Trang nghiêm Kính Mừng Ngày Lễ Phật Thích Ca Thành Đạo 8/12 Al

Để tưởng niệm công hạnh độ sinh của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, Tu Viện Hộ Pháp sẽ cử hành buổi Đại Lễ Cúng Dường Đức Thế Tôn Thành Đạo và Thắp Sáng Hoa Đăng Cầu Nguyện Hòa Bình, Nhơn Dân An Lạc
vào lúc 5:30 AM Sao Mai vừa mọc Thursday ngày 5 tháng 01 năm 2017.

Trân trọng thông báo và kính mời toàn thể quý Phật tử cùng về tham dự lễ



Tu Viện Hộ Pháp


Kính thông báo

 Hoa Dâng Cúng Phật

Phòng Tin Tức Phật Sự Thế Giới và Hoa Kỳ -- iTemple: HoPhap.net