Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

THƯ KÍNH GỬI ĐỨC THẾ TÔN

Thư kính gửi Đức Thế Tôn

Thư kính gửi Đức Thế Tôn


Kính bạch đức Thế Tôn!

Con viết lá thư này gửi đến Ngài với tất cả ưu tư và lòng trắc ẩn nơi tận đáy hồn con. Một lá thư có thể giúp con vơi đi những mệt nhoài thế sự, vì biết rằng con đang được Ngài an ủi, lắng nghe. 

Hạnh phúc thay khi con được là đệ tử Ngài, được sống trong Tăng đoàn Thế Tôn. Chiếc áo con mặc, bát cơm con ăn, chiếc giường con ngủ,  viên thuốc con uống ... tất thảy đều của Đức Thế Tôn. Chúng sinh mười phương đều tôn kính Ngài. Vì con là con của Ngài,  sống trong căn nhà của Ngài, đi trên đường của Ngài nên cũng được thương yêu, nuôi nấng, bảo bọc. Những huynh đệ của con sống trong Tăng đoàn của Ngài cũng được như thế. 

Con đang tiếp xúc với Thế Tôn, con thấy Thế Tôn nơi tăng đoàn nguyên thủy, một tăng đoàn vững chãi với năng lực của từ ái, bao dung. Con nhớ đến hình ảnh một Tăng đoàn với những vị tôn giả trí tuệ và uy đức khôn lường như trưởng lão Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Anan... các vị là những trợ thủ đắc lực của Ngài trên đường hoằng truyền giáo pháp, xây dựng Tăng thân và đạo tràng tu học. Nhưng trong đó cũng có những vị còn rất yếu kém trong sự tu tập như Tu Đề Na đã từ bỏ gia đình sống đời thoát tục nhưng vẫn quay về nhà sống với vợ cũ khiến xã hội đàm  tiếu,  như Đàn Di Ca qua mặt luật pháp đốn cây về xây dựng Thất riêng khiến vua phiền lòng, quần chúng dè bỉu hay như Đề Bà Đạt Đa, nhiều lần chống phá Thế Tôn, chia rẽ Tăng đoàn.

8A2C40A9 1C71 45E0 863D 4FB9BB6F4FCF
Con còn nhớ có lần nội bộ Tăng đoàn xào xáo khiến Ngài phải phiền lòng và vô rừng sống độc cư suốt ba tháng liền không về tịnh  xá. Ngài vô rừng không phải quay lưng với Tăng đoàn mà là tĩnh cư để truyền năng lượng về cho tăng đoàn, giúp hàn gắn những đổ vỡ có thể xảy ra; Ngài dành thời gian để chế tác giới luật mầu nhiệm,  giúp những vị còn khiếm khuyết trong ứng dụng thực tập. 
Con kính trọng và biết ơn các bậc Giải thoát tăng, chư vị là những đệ tử lớn, đệ tử giỏi của Ngài, là những người tiên phong trong thực tập và thành công trong truyền đạo để hàng hậu học chúng con noi theo, hành trì và tiếp nối đúng nghĩa sự nghiệp của Thế Tôn. Con cũng  kính thương và rất biết ơn các vị “nghiệp chướng tăng”, nhờ chư vị mà Thế Tôn đã chế tác giới luật để hàng đệ tử chúng con không vướng phải những sai lầm.
Hai chữ "Tăng đoàn" - làm con xao xuyến! Một đoàn thể sống thanh tịnh,  hòa hợp với những chiếc áo màu nâu đất - màu của nhẫn nại,  bao dung, tha thứ, không kỳ thị, trung kiên và nuôi dưỡng; những chiếc áo vàng - màu của ánh sáng chân lý chiếu soi,  màu của giải thoát, giác ngộ.
Nhưng, Thế Tôn ơi...! Con phải biết giải bày với ai ngoài Ngài khi mà hàng loạt những sự cố trong nội bộ Tăng đoàn liên tục xảy ra qua truyền thông, báo chí. Huynh đệ của con gặp nạn và tai nạn này lại là cớ sự nối tiếp tai nạn kia. 
Pháp mà Ngài dạy cho chúng con là pháp hành. Có những huynh đệ tu tập, hành trì tinh chuyên, đầy đủ giới hạnh và uy đức.  Bên cạnh đó cũng có những huynh đệ không chịu nghiên cứu, học hỏi giáo pháp, yếu kém trong công phu tu tập, không thấu đáo giáo pháp của Thế Tôn, tâm không có một tí chất liệu Phật pháp mà đã vội ra làm Phật sự kết quả dẫn đến là ... ma sự; hậu quả là bị đánh phá, bị vùi dập thay vì được thấu hiểu và thương yêu nhiều hơn. 
Cũng có những vị chịu học, học rất giỏi, kiến thức sâu rộng, khả năng hoạt ngôn tốt nhưng chỉ dừng lại ở hiểu biết, kiến thức mà không vững chãi trên bước hành trì nên dù mang danh hoằng pháp độ sinh nhưng thực chất chỉ là lí thuyết suông, hí luận, diễn trò ngôn ngữ, lội bể văn chương. Đau đớn hơn, những vị này lại lấy những kiến thức hiểu biết Phật pháp như thứ vũ khí sắc bén công kích, đập phá, xỉa xói vào những huynh đệ của mình đang bị nạn do vì chưa hiểu biết thấu đáo Phật pháp - Đánh cho nó chết. 
Có đáng trách không khi mà huynh đệ con đã quá khổ đau rồi. Khổ đau vì những ồn ào từ dư luận, khổ đau vì bị tước đoạt mọi mỹ hiệu của một vị tăng, khổ đau vì không thấy được giáo pháp tự bên trong mình sau những phút giây nhìn lại. Tai nạn đã đến với huynh đệ con. 
Con đau đớn vì có những huynh đệ khác chưa hoặc  không gặp nạn, cũng cố góp phần giải quyết vấn nạn trong khi chưa chánh niệm,  thiếu chất liệu giáo pháp nên vô tình tiếp tục tạo ra tai nạn lớn hơn. Con quặn người khi nghe một ai hỏi "Cùng là con Phật sao không thương quí nhau?". Câu nói quá đổi bình thường nhưng sao đầy chua sót. Nghe xong con đã khóc, con khóc thật nhiều. Con chưa đủ vững chải và điềm tỉnh khi Tăng đoàn bị xúc phạm. Có những vị không phải đệ tử Thế Tôn,  chỉ là có tình cảm với đạo thôi nhưng họ biết đồng cảm, lắng nghe, chia sẻ và dùng tình thương ôm ấp những chiếc áo vàng đang bị nạn. 
Trong khi có những chiếc áo vàng đang đứng trong hàng ngũ Tăng đoàn thì lại lên án nhau, bài trừ nhau thay vì  lắng nghe để thấu hiểu, cảm thông chia sẻ và thương yêu. Đây mới thật sự là điều làm con trăn trở.
Không phải vì một đứa con hư trong một gia đình tốt mà gia đình ấy trở nên xấu xa, đáng bị ghét bỏ. Chính hành động của anh em, họ hàng trong gia đình ấy không đối xử bằng tình thương ngược lại còn mắng mỏ, đánh đập, xỉ vả đứa con hư kia mới làm cho gia đình ấy trở nên xấu xa hơn, tồi tệ hơn. Trong gia đình, đây là gia nạn. Trong Phật pháp, đây chính là pháp nạn. Không một con thú dữ nào có thể giết chết sư tử ngoài những con vi trùng trong thân sư tử.
Con còn nhớ, có lần Sadi Cunda chứng kiến Nigantha Nataputta - giáo chủ một tôn giáo - vừa mới qua đời ở Pava, các đệ tử của vị này đã chia bè, chia phái, tranh chấp, tranh luận và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi, đến nỗi tín đồ của Nigantha Nataputta cũng chán ngấy muốn bỏ đạo.
76FD88C0 98D5 4264 9DCA B086969147F4
Sa di Cunda đã bộc bạch Tôn giả Ananda rồi cả hai cùng đến Thế Tôn, mong được chỉ giáo. 
Đức Phật dạy,  những pháp Ta dạy cho các ông với vô thượng trí như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, không có pháp nào dạy về luận tranh, khẩu tranh, đấu tranh cả mà chỉ nhằm mục đích ứng dụng tu hành. Nếu thực hành tốt sẽ không có bất cứ mâu thuẫn nào xảy ra. Còn những vị nào chỉ dùng giáo pháp để tranh luận hơn thua, đúng sai, phải trái  giữa tăng chúng. Tranh luận ấy sẽ đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, đau khổ cho loài Trời và loài Người.
Kính bạch đức Thế Tôn! 
Không còn bao ngày nữa là chúng con kỷ niệm ngài Thế Tôn ra đời, vậy mà tăng đoàn chúng con đang phải vướng vào tai nạn lớn. Món quà nào sẽ là phẩm vật quý báu nhất mà tăng đoàn con dâng cúng đức Thế Tôn nhân ngày Phật đản? Con biết dù sự đau đớn trong con có lớn thế nào thì người đau nhất vẫn là đức Thế Tôn. 
Chúng con cố tình đã gắn vào môi Thế Tôn những câu chữ mà Ngài chưa bao giờ nói;  Chúng con đã cố tình gắn vào tay Thế Tôn những điều  mà Ngài chưa bao giờ làm; Chúng con đã cố tình nhét vào đầu  Thế Tôn những học thuyết mà Ngài chưa bao giờ nghĩ đến. Chúng con tự dựng lên hình ảnh một đức Phật theo tư duy trần thế rồi vin vào đó, nhân danh Thế Tôn làm những điều phi chánh pháp, phi giới luật. 
Thế Tôn đã dạy về Sáu pháp hòa kính để hàng đệ tử chúng con lấy đó làm nền tảng căn bản, xây dựng nếp sống tăng đoàn hòa kính, hạnh phúc và an lạc, cùng đồng một tâm, cùng hoà một chốn.
DDC775CF E06E 4797 9301 FE6883D33CFC
Con chỉ có một ước nguyện duy nhất rằng Tăng đoàn con hòa hợp, thương kính nhau. 
Kính bạch đức Thế Tôn! 
Dù tai nạn có lớn thế nào thì huynh đệ con cũng đều đáng thương hơn là đáng trách. Huynh đệ con đều muốn xây dựng hơn là đập  phá. Tất cả chỉ vì chưa đủ tuệ giác tỉnh thức để Thế Tôn luôn biểu hiện nơi mỗi huynh đệ mà thôi. Một bộ phận trong cơ thể đang bị tổn thương, nhiệm vụ của con là chữa lành. Tăng đoàn con gặp nạn, hiển nhiên một điều con phải thương yêu. Càng nương tựa Tăng thân, chúng con càng dễ buông bỏ mặc cảm mình là một cái ta riêng lẻ. Con ý thức sáng tỏ nếu thả mình vào Tăng thân, chúng con sẽ thấy rất rõ rằng con mắt, bàn tay, trái tim của Tăng thân lớn hơn bất kỳ một cá nhân nào. Con nguyện không đi vào vết đỗ mà huynh đệ con đã đi mà chỉ nguyện sống tỉnh thức, bao dung. Lấy giới luật làm thầy, lấy từ tâm mà hóa giải, lấy chánh ngữ, ái ngữ để làm chất liệu xây dựng lại công trình dang dỡ từ những đau khổ, nạn tai.
Bình minh chỉ thật sự có mặt khi con nhìn cuộc đời đầy biến động và vô thường với đôi mắt thương, biết nghe những câu chuyện thị phi với tấm lòng rộng mở, không thành kiến, không phán xét và biết nói với nhau những lời ái ngữ, nhẹ nhàng.
Chúng con nhận thức sâu sắc rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập, hành trì đúng lời Đức Thế Tôn dạy, thì Ba Vàng kia chính là Ba ngôi cao quý Phật Pháp Tăng. Ngược lại đó cũng chính là ba độc tham sân si. 
Phật thân, Pháp thân và Tăng thân tương tức cho nên con phải nuôi dưỡng Tăng thân con, cũng là nuôi dưỡng Phật và Pháp thân Thế Tôn mãi trường tồn.
Điều Ngự Tử Trí Chơn 

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

PHỤC HỒI Ý NGHĨA CHỮ VẠN Một Việc Làm Vô Cùng Ý Nghĩa

Một nhà sư Nhật Bản phục hồi ý nghĩa của chữ Vạn
(Un bonze japonais souhaite réhabiliter la signification originale de la swastika)

Hoang Phong chuyển ngữ
            Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji. Chẳng qua là vì những người quốc-xã (nazi) đã biến chữ này thành một biểu tượng cấm kỵ trong các nước Tây phươngngày nay. Thế nhưng chữ Vạn đã ăn sâu vào nền văn hóa của Nhật Bản từ khi Phật giáo mới được đưa vào xứ sở này, và nhà sư Nakagaki muốn nhấn mạnh với người Tây Phương là chữ Vạn với tư cách là một biểu tượnghoà bình cũng đã được sử dụng trong rất nhiều tôn giáo!
image001
H.1: Chữ Vạn trên ngực một pho tượng Phật

            Khi nhà sư Kenjitsu Nakagaki rời Osaka và định cư tại thành phố Seattle trên đất Mỹ năm 1985 thì khi đó ông cũng chỉ hiểu ý nghĩa của chữ Vạn qua từ manji trong tiếng Nhật - gốc tiếng Hán mang ý nghĩa là "sự giàu có". Một hôm trong khi cử hành một nghi lễ Phật giáo, ông có nói đến biểu tượng chữ Vạn, thì tức khắc có một người trong chùa cảnh giác rằng ông "không được làm như thế trong xứ sở này". Từ đó nhà sư Nakagaki đã hiểu được là chữ Vạn lại còn có thêm một ý nghĩakhác nữa, đó là sự hận thù.  

            Gần đây hơn, ông tuyên bố thẳng với giới truyền thông qua tờ Japan Times của thành phố New York như sau: "Sau khi học được bài học trên đây, tôi không dám nói đến biểu tượng này nữa - và đến nay thì cũng đã 25 năm rồi". "Thế nhưng tầm nhìn đó quả là hẹp hòi và thiển cận, không thể nào chấp nhận được, nhất là đối với những người trong số chúng ta từng lớn lên với chữ Vạn qua tín ngưỡng của mình và nền văn hóa của quê hương mình". Thật vậy biểu tượng này rất phổ biến tại Phương Đông, nơi mà Phật giáo Ấn Độ đã được truyền bá, và hơn nữa chữ Vạn cũng là một thuật ngữ tiếng Phạn, mang ý nghĩa là "được mọi điều tốt đẹp" (tiền ngữ su có nghĩa là "tốt đẹp", hậu ngữ asti có nghĩa là "được"/être, to be)

            Hiện nay nhà sư Nakagaki đang cố gắng kêu gọi quần chúng hãy quan tâm nhiều hơn đến từ này trong nền văn hóa Ấn Độ với ý nghĩa nguyên thủy của nó là Hòa Hình. Quyển sách mới đây nhất của ông với tựa đề : "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) là một đóng góp của ông nhằm phục hồi một biểu tượng đã bị cấm kỵ sau một thời gian dài. Trong quyển sách này nhà sư Nakagaki giải thích thật chi tiết nguồn gốc Á Đông của chữ Vạn và nêu lên các trường hợp mà biểu tượng này đã được sử dụng trong nhiều tín ngưỡngnhư Ấn giáo, Phật giáo, đạo Ja-in, Do Thái giáo, Ki-tô giáo và cả Hồi giáo, và cũng đã từ lâu đời, trước khi biểu tượng này bị những người Quốc-xã tước đoạt (biểu tượng "chữ thập có bốn cánh gập lại" mà  sau này người ta gọi là "swastika", là một trong số các biểu tượng xưa nhất của nhân loại. Người ta tìm thấy loại chữ thập này từ Thời đại đồ đá mới/Neolithic, tức là vào thời kỳ khi con người mới bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt. Vì thế cũng có thể xem chữ Vạn là một biểu tượng "toàn cầu". Sở dĩ biểu tượng này đã xuất hiện rất sớm và phổ biếnrộng rãi trong nền văn minh nhân loại có thể là do tính cách đơn giản và dễ ghi khắc của nó. Di tích lâu đời nhất của biểu tượng này được tìm thấy tại xứ Ukraine , xưa khoảng 10.000 năm - ghi chú của người chuyển ngữtiếng Việt).

            Chữ Vạn được biểu trưng bằng nhiều cách: một số có thêm bốn dấu chấm, một số khác dưới dạng một cơn lốc xoáy tròn, hoặc các biến thể khác. Đối với Phật giáo chữ Vạn nằm thẳng, bốn cánh quay về phía trái, trong khi Chữ-thập-ngoặc của Đức-quốc-xã thì nằm nghiêng 45° và bốn cánh thì quay về phía phải. Biểu tượng chữ Vạn rất phổ biến tại Nhật, và thường được dùng để chỉ định vị trí chùa chiền trên các bản đồ địa lý từ triều đại Meiji (1868-1912).
            Trong những năm gần đây đã từng có nhiều cuộc tranh luận về chữ Vạn, nhất là từ khi công ty Google "vô tình" đã dùng dấu hiệu chữ Vạn này chỉ định vị trí các chùa chiền Phật giáo trên những bản đồ do công ty phác họa! Thế nhưng chính công ty Google sau đó cũng đã phải tuyên bố với tổ hợp báo chí HuffPost rằng biểu tượng này dù đúng là "của tín ngưỡng Phật giáo", thế nhưng công ty cũng sẽ tìm cách … giải quyết khó khăn này! Năm 2015, một sinh viên Do Thái bị đuổi khỏi đại học George Washington sau khi cài lên bảng thông cáo của trường biểu tượng chữ Vạn mà anh ta đã mua tại Ấn Độ. Năm 2017, công ty may mặc Âu-châu DA Designs cho in biểu tượng chữ Vạn trên các chiếc áo thun (tee shirt) với chủ đích "quảng bá" ý nghĩa hoà bình và tình thương yêu của biểu tượng này. Thế nhưng sáng kiến này đã bị Quốc hội Do Thái và Bảo tàng viện tưởng niệm nhà giam Auschwitz (lò thiêu người của Đức-quốc-xã)chỉ trích nặng nề.

            Quyển sách của nhà sư Nakagaki trên đây cho thấy một sự cố gắng liên tục của ông trong việc làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ Vạn, sau khi ông đệ trình luận án về vấn đề này tại Chủng viện Thần học New York năm 2012. Luận án này sau đó đã được xuất bản tại Nhật năm 2013. Thế nhưng các nhà xuất bản Mỹ thì lại quá dè dặt không dám in. Nhà sư Nakagaki bèn tự mình xuất bản qua công ty Amazon năm 2017. Mãi đến mùa thuvừa qua nhà xuất bản Stone Bridge Press mới xuất bản quyển sách này tại Mỹ. 

image002
Hình bìa quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" của nhà sưKenjitsu Nakagaki.
image004
Nhà sư Kenjitsu Nakagaki đang giới thiệu quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) với vị giáo sĩ (rabbi)Do-thái giáo Alan Brill, chủ tịch ủy ban nghiên cứuDo-thái giáo và Ky-tô giáo tại đại học Seton Hall tại thành phố New Jersey, tháng 11 năm 2018.

Nguồn: Lion'Roar, bài viết của Haleigh Atwơd  (09.01.2019)
Có thể xem tin này trên trang mạng: Buddhistdoor, bài viết  của Raymond Lam (19.12.2018)
Có thể xem bản gốc tiếng Pháp trên trang mạng của Viện nghiên cứu Phật học của Pháp (Institut d'Études Bouddhiques/IEB) (16.01.2019) :
https://bouddhismes.net/index.php?option=com_content&view=article&id=182:un-bonze-japonais-souhaite-rehabiliter-la-signification-originale-de-la-swastika&catid=12&Itemid=128-
Hình ảnh:  Davidlohr Bueso ; japantimes.co.jp

                                                                                                 Bures-Sur-Yvette, 14.02 19
                                                                                                  Hoang Phong chuyển ngữ
 PHỤC