Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

THÔNG BÁO THAY THƯ MỜI Khoá Tu Đức Liên Hoa Sanh Con kính lễ Đức Liên Hoa Sanh Đạo sư từ ái, Liên Hoa Sanh Monastery đầu tiên chính thức tổ chức mở khoá tu về Mật thừa, kính mời tất cả chư hành giả một phen thân hành lên Đại Hùng Sơn cùng kết duyên tham dự khoá tu quan trọng và tuyệt vời này tại Tu Viện Liên Hoa Sanh vào 2 ngày, Thứ Bảy và Chủ Nhật 17 & 18 tháng 8 năm 2019 dưới sự hướng dẫn trục tiếp của Đại sư Tulku Orgyen Rinpoche đến từ Santa Barbara, California Sự tụ hội của chư hành giả về tham dự trong khoá tu hai ngày này là niềm vinh dự và là nguồn năng lượng tốt tạo hứng khởi cho sự tu tập và hoằng Pháp của Đạo tràng Liên Hoa Sanh. Trân trọng kính mời Om Mani Pedme Hung In Metta Ogyen Choeling Monastery

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

Bổn Tôn Du Già

BỔN TÔN DU GIÀ

Nguyên bản: Deity Yoga
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / Thursday, March 7, 2019

-*-

Trong Phật giáo có hai loại thực tập căn bản Hiển Giáo và Mật Giáo. Cho đến giờ, chúng ta đang thảo luận về sự thực hành Hiền Giáo. Mục tiêu đặc biệt của Mật Giáo là để cung ứng một con đường nhanh hơn vì thế những hành giả đủ điều kiện có thể phục vụ người khác một cách nhanh chóng hơn. Trong Mật Giáo năng lực của quán tưởng được khai thác để hành thiền trong một sự thực hành gọi là bổn tôn du già. Trong sự thực hành này ta tưởng tượng: 

1- Thay thế tâm thức ta như nó xuất hiện một cách thông thường, đầy những cảm xúc rắc rối, với một tâm thức tuệ trí tinh khiết được động viên bởi từ bi;
2- Thay thế thân thể ta như thông thường nó hiện hữu (được cấu thành bởi thịt, máu, và xương) với một thân thể được cấu thành từ bi mẫn được thúc đẩy bởi tuệ trí.
3- Phát triển cảm nhận của một tự ngã tinh khiết vốn phụ thuộc trên tâm thứcvà thân thể hiện hữu một cách thuần khiết trong một môi trường lý tưởng, hoàn toàn dấn thân trong việc giúp đở người khác. 



Sự thực hành đặc biệt này của Mật Tông yêu cầu quán tưởng tự thân ta với một thân thể, hành vi, năng lực và môi trường chung quanh của một Đức Phật, nó được gọi là “lấy sự quán tưởng làm con đường tâm linh.”

Chúng ta hãy xem xét một dự tưởng về sự thực hành này. Ta xem tự thân ta có những phẩm chất của một Đức Phật vốn hiện tại ta chưa có. Thế thì, đây có phải một loại tâm thức thiền quán đúng đắn không? Vâng. Tâm thức ta được liên hệ trong một sự thấu hiểu thực tại từ việc ta đang hiện hữu như một bổn tôn. Do thế, tâm thức ta, từ quan điểm này, là đúng đắn. Cũng thế, ta đang cố tình tưởng tượng tự ta như có một thân thể siêu phàm ngay cả hiện tại ta chưa sở hữu. Đây là sự hành thiền quán tưởng, chúng ta không tự tin từ thâm tâm rằng ta thật sự có tâm thức, thân thể, và cá tính thuần khiết. Đúng hơn, căn cứ trên việc quán tưởng trọn vẹn  về thân thể và tâm thức lý tưởng, chúng ta đang trau dồi cảm nhận hiện hữu của một bổn tôn hổ trợ người khác một cách từ bi.

Để là một giáo thọ Mật Giáo đặc biệt – như đã nói, loại giáo thọ mà với người ấy Đức Phật đặc biệt trình bày sự thực hành Mật Tông – một hành giả phải có năng lực sắc bén và đã đạt đến tuệ trí vững vàng thực chứng tánh không, hay đã sẳn sàng kích hoạt nhanh chóng tuệ trí này. Những đòi hỏi cho chỉ việc thực hành Mật Tông là ít nghiêm nhặt hơn; tuy thế, việc dấn thân trong Mật Giáo ở bất cứ trình độ nào cũng đòi hỏi một ý chí mạnh mẽ để đạt được Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh, và một cảm nhận rằng việc này cần được hoàn thành một cách thật nhanh chóng.

Vào lúc bắt đầu của việc thực hành Mật Tông, cách căn bản để phát triển sự tĩnh lặng (tam muội) là hành thiền trên thân thể của chính ta giống như nó đã là một bổn tôn. Khi chúng ta hành thiền trên một thân thể siêu phàm, trước tiên ta hành thiền về tánh không, hãy gặt hái sự tỉnh thức tối đa  như có thể về tánh không của sự tồn tại cố hữu. Khi chúng ta đã thích nghi với thể trạng này, thì ta sử dụng chính tự tâm thức ấy như căn bản mà từ đó bổn tôn xuất hiện. Tâm thức, thực chứng tánh không, xuất hiện như bổn tôn và môi trường chung quanh của vị ấy. Trước tiên ta thiền quán về tánh không, từ đó bổn tôn xuất hiện; sau đó tập trung vào bổn tôn.

Trong cách này, bồn tôn du già kết hợp tuệ trí và động cơ từ bi, một tâm thức đơn độc thực chứng tánh không và xuất hiện một cách từ bi trong hình thức của một bổn tôn vị tha. Trong hệ thống Hiển Giáo, mặc dù có một sự phối hợp của tuệ trí và động cơ từ bi, nhưng sự thực hành tuệ trí chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành động cơ, và sự thực hành động cơ chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành tuệ trí; chúng không được bao hàm trong một ý thức. Một tính năng phân biệt của Mật Giáo là chúng là như vậy. Sự bao hàm của động cơ và tuệ trí trong một ý thức là những gì làm cho tiến trình của Mật Tông thật nhanh chóng.

Khi tôi còn là một thiếu niên, Mật Tông chỉ là một vấn đề của sự tin tưởng mù quáng. Vào tuổi hai mươi bốn, tôi mất quê hương và rồi thì sau đó đến Ấn Độ thật sự bắt đầu đọc những giải thích của Tông Khách Ba về tánh không. Rồi thì, sau khi chuyển đến Dharamsala, tôi đã dành nhiều nổ lực trong sự học tập và thực hành những giai tầng của con đường tu tập, tánh không, và Mật Tông. Thế nên, chỉ vào cuối những năm hai mươi tuổi của tôi sau khi đạt được một kinh nghiệm nào đó về tánh không thì bổn tôn du già mới có lý.

Một lần nọ ở chùa chính ở Dharamsala, tôi đang tiến hành nghi thức quán tưởng tôi như một bổn tôn của Tantra Yoga Tối Thượng, được gọi là Phật Bí Mật Tập Hội. Tâm tư tôi liên tục duy trì trong việc trì tụng nghi thức, và khi cụm chữ “tự chính tôi” đến, thì tôi hoàn toàn quên về tự thân thông thường của tôi trong mối quan hệ với sự phối hợp của tâm thức và thân thể. Thay vì thế, tôi có một cảm nhận rất rõ ràng về “tôi” trong mối quan hệ với sự kết hợp mới mẻ thuần khiết của tâm và thân của Phật Bí Mật Tập Hội (Phật Guhyasamaja), mà tôi đang quán tưởng. Vì đây là loại tự xác định vốn là trọng tâm của Du già Mật tông, cho nên kinh nghiệm xác nhận với tôi rằng với đầy đủ thời gian thì tôi chắc chắn sẽ đạt được những thể trạng sâu xa ngoại hạng đã được đề cập trong các kinh điển.

QUÁN ĐẢNH

Để thực hành Mật Thừa, thì đặc biệt quan trọng là được tham gia vào lễ truyền pháp gia hộ từ những bậc đại nhân trước đó. Những sự gia hộ không có trong sự thực hành của Kinh Thừa Hiển Giáo, nhưng chúng là thiết yếu trong Mật Tông. Phương tiện trước tiên của việc đi vào những sự gia hộ này là qua cánh cửa quán đảnh. Có bốn lớp Mật Tông – Hoạt Động, Thực Hiện, Du Già và Vô Thượng Du Già (Tantra Yoga Tối Thượng) – mỗi lớp với những sự quán đảnh của nó để làm chín muồi tâm thức cho sự thực tập, và mỗi lớp Mật Tông với những sự hành thiền của chính nó.

Chúng ta tiếp nhận sự quán đảnh ở đâu? Trong một mạn đà la, bao hàm những môi trường lý tưởng và cư dân siêu phàm tất cả vốn là những sự biểu hiện của từ bi và tuệ trí. Có những mạn đà la với mức độ phức tạp khác nhau cho tất cả bốn lớp Mật Tông. Một số được vẽ. Những thứ khác được tạo thành từ cát màu, và tuy thế những thứ khác nữa được tạo thành từ một loại mạn đà la thiền định đặc biệt.

Để tiếp nhận sự quán đảnh và phát nguyện trong một mạn đà la của Mật Tông Du Già hay Vô Thượng Du Già, vị lạt ma tiến hành buổi lễ phải có những phẩm chất hoàn hảo. Tất cả bốn bộ Mật Tông nhấn mạnh đặc biệt vào đức tính của vị lạt ma, trong việc giữ gìn những sự diễn tả chi tiết của Đức Phật cho những giai tầng khác nhau của con đường tu tập. Cũng hãy nhớ lời Đức Phật dạy bảo rằng không chỉ nương tựa vào người ấy mà cũng phải nương tựa vào giáo lý (y pháp bất y nhân). Ta không nên bị choáng ngợp bởi danh tiếng của một vị thầy. Điều quan trọng nhất là, vị thầy phải biết giáo lý, những thực hành, trọn vẹn.

CAM KẾT VÀ THỆ NGUYỆN

Trong hai bộ Mật Tông thấp – Hành Động và Thực Hiện – không có sự chỉ bảo rõ ràng rằng những thệ nguyện Mật Tông phải được tiếp nhận cho lễ quán đảnh; tuy thế, có nhiều sự cam kết phải được giữ. Trong hai bộ Mật Tông cao – Du Già và Vô Thượng Du Già – sau khi nhận lễ quán đảnh với tất cả những khía cạnh của nó, ta phải tiếp nhận những thệ nguyện Mật Tông ngoài những cam kết. Mật Tông Du Già và Vô Thượng Du Già có mười bốn (14) giới nguyện căn bản cũng như danh sách của những vi phạm để bảo vệ chống lại, nhưng như chúng khác nhau trong những con đường tu tập tương ứng, thậm chí những giới nguyện căn bản cũng hơi khác nhau. Vì sự thực hành Mật Tông quan tâm chính yếu với việc vượt thắng hiện tướng của chính ta và môi trường của ta khi bình thường (nhằm để khắc phục nhận thức những thứ này như bình thường), cho nên ta quán tưởng tự ta có một thân thể, các hành vi từ bi, tiềm lực, và nơi ở của một Đức Phật. Do vậy, hầu hết các sự cam kết quan tâm đến việc thay thế lý tưởng cho những hiện tướng thông thường, và kiềm chế sự đánh giá của chính ta về ta, những bạn đồng hành của ta, môi trường của ta, và những hành vi của ta như thông thường.

Loại thứ nhất được mệnh danh là đạo đức giải thoát cá nhânsau đó là đạo đức Bồ tát, và cuối cùng là đạo đức Mật thừa. Những người thọ giới Bồ tát và Mật tông giữ lối giải thích của riêng họ về giới giải thoát cá nhân. Mật pháp Thời Luân, vốn rộ nở vào thế kỷ 11 ở Ấn Độ và đã trở thành Kim Cương tông chính yếu của những trường phái Tân dịch ở Tây Tạng, tuyên bố rằng nếu có ba vị thầy Mật tông, một với giới giải thoát cá nhânmột với giới sa di, và người thứ ba với đại giới cụ túc, thì người thọ giới cụ túc nên được xem là cao hơn những người kia. Điều này cho thấy rằng sự kính mến cao mà ngay cả trong hệ thống Mật thừa cũng đặt vào đạo đức xuất gia. Mật điển Bí Mật Tập Hội nói rằng bề ngoài ta nên giữ những khuôn phép của sự thực hành giải thoát cá nhân, và bên trong hãy duy trì một mối thân thuộc cho sự thực hành Mật Tông. Trong những cách này sự thực hành của Hiển Giáo và Mật Giáo hoạt động chung với nhau.

PHƯƠNG TIỆN CỦA MẬT TÔNG TRONG CON ĐƯỜNG TU TẬP 

Chúng ta hãy xem vai của tình dục trong con đường tu tập của Mật tong bằng cách nhìn vào cấm đoán tà dâm trong đạo đức giải thoát cá nhân, vốn hoàn toàn căn cứ trên nguyên tắc của việc tránh làm tổn hại. Tà dâm được chi tiết hóa trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của Thế Thân. Đối với một người nam không được có quan hệ với vợ người khác, hay với người vị thành niên. Đối với người nữ cũng vậy; cũng không được quan hệ với chồng người khác, hay người vị thành niên. Một số người cho rằng, thực tức cười, vì tác phẩm của Thế Thân giải thích mười điều bất thiện từ quan điểm của nam giới, cho nên nếu người nữ làm mười điều bất thiện thì không sao – và vì vậy không có việc cấm đoán đối với người nữ.

Đối với những Phật tử, việc giao hợp có thể được sử dụng trong con đường tâm linh vì nó tạo ra một sự tập trung mạnh mẽ của tâm thức nếu hành giả đã có lòng từ bi và trí tuệ vững vàng. Nếu mục tiêu của nó là để biểu hiện và kéo dài những trình độ sâu sắc hơn của tâm (được diễn tả trước đây với tương ứng của tiến trình lâm chung), nhằm để đặt năng lực của họ để sử dụng trong việc làm mạnh mẽ sự thực chứng tánh không. Trái lại, chỉ giao hợp đơn thuần thì không có tác dụng vì với con đường tâm linh. Khi một hành giả đã đạt được trình độ cao cấp của thực hành trong động cơ và trí tuệ, thế thì ngay cả khi giao hợp, không làm xao lãng với việc duy trì thái độ thuần khiết của người ấy. Các hành giả du già đã đạt được trình độ cao trên con đường tu tập và đầy đủ phẩm chất thì có thể dấn thân trong hành vi như vậy, và một tu sĩ với năng lực này có thể duy trì toàn bộ giới nguyện.

Một hành giả du già Tây Tạng tinh tường, khi bị người khác bình phẩm nói rằng ông đã ăn thịt và uống bia khi dâng cúng đến bổn tôn mạn đà la. Những hành giả Mật tong như vậy quán tưởng họ như những bổn tôn trong một mạn đà la hoàn chỉnh, trong sự quán tưởng rằng bổn tôn tối thượng là đại lạc tối thượng – sự phối hợp của đại lạc và tánh không. Người ấy cũng nói rằng sự thực hành tình dục với một phối ngẫu cam kết vì lợi ích của việc phát triển một tri thức chân thật. Và rằng việc làm ấy là mục tiêu. Một hành giả như vậy có thể làm cho việc sử dụng tâm linh không chỉ thực phẩm và thức uống thơm ngon, mà ngay cả phân và nước tiểu. Một thiền giả du già chuyển hóa những thứ này thành thực phẩm của thần thánh thật sự. Tuy thế, đối với những người như chúng ta, thì việc này ngoài tầm tay. Cho đến khi nào chúng ta không thể chuyển hóa phân và nước tiểu, thì những thứ khác không nên làm!

Đức Phật đã đưa ra một chuỗi những giai tầng của con đường một cách chính xác vì lý do này. Giai đoạn sơ bộ là tu tập trong những giới nguyện của giải thoát cá nhân. Nếu chúng ta sống như một tu sĩ nam hay nữ, thì đức hạnh của ta phải căn bản hơn – hơi nguy hiểm nếu quá đáng. Ngay cả nếu ta không hoàn toàn thi hành những giới nguyện như vậy, thì cũng không có gì tai hại nhiều. Rồi thì cứ thực hành, thực hành, thực hành. Một khi chúng ta đã phát triển được sức mạnh nội tại, ta có thể kiểm soát bốn yếu tố nội tại – đất, nước, lửa, gió ( hay năm đại nếu thêm của không đại). Một khi ta có thể hoàn toàn kiểm soát bốn yếu tố nội tại, thế thì ta có thể kiểm soát năm yếu tố bên ngoài. Sau đó ta có thể sử dụng bất cứ thứ gì.

Việc giao hợp giúp gì trong con đường tu tập? Có nhiều trình độ khác nhau của tâm thức. Khả năng của những trình độ thô rất hạn chế, nhưng những trình độ sâu xa vi tế là mạnh mẽ hơn nhiều. Chúng ta cần thâm nhập những trình độ vi tế hơn của tâm thức. Nhưng nhằm để làm được như vậy, chúng ta cần làm yếu đi và tạm thời dừng lại tâm thức thô. Để làm điều này thì cần thiết phải mang đến một sự thay đổi sâu sắc trong dòng chảy của những năng lượng nội tại. Mặc dù những hình thái của những trình độ tâm thức sâu sắc hơn xảy ra trong khi nhảy mũi và ngáp, nhưng rõ ràng là chúng không thể kéo dài. Cũng thế, kinh nghiệm trước đây với việc biểu hiện những trình độ sâu sắc hơn đòi hỏi việc sử dụng việc xảy ra của chúng trong giấc ngủ sâu. Đây là nơi mà chúng xảy ra. Qua những kỷ năng đặc biệt của việc thiền định trong giấc ngủ, các hành giả thành thạo  có thể kéo dài những thể trạng vi tế và đầy năng lực và đặt chúng vào việc sử dụng để thực chứng tánh không. Tuy nhiên, nếu là những người thong thường thì không có tác dụng gì.

Một Đức Phật không cần sự giao hợp. Các bổn tôn trong một mạn đà la thì thường trong sự kết hợp với một phối ngẫu, nhưng điều này không phải nói rằng chư Phật phải cần đến sự giao hợp cho đại lạc của các ngài. Chư Phật đã có đầy đủ đại lạc trong chính các ngài. Chư bổn tôn trong sự kết hợp tự nhiên xuất hiện trong mạn đà la vì lợi ích của chúng sanh với những năng lực sắc bén có thể sử dụng phối ngẫu với đại lạc của việc kết hợp trong việc thực hành con đường nhanh chóng của Mật tong. Trong cùng cách rất giống như vậy, Đức Phật Mật tông Kim Cương Trì xuất  hiện trong những khía cạnh hòa bình và những khía cạnh hung tợn, nhưng đó không có nghĩa là Đức Phật Kim Cương Trì có  hai khía cạnh này với tính chất của ngài là luôn luôn hoàn toàn từ bi. Đúng hơn, sự xuất hiện tự nhiên trong những cung cách khác nhau là vì lợi ích của những hành giả tu tập. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện đúng trong một cung cách mà hành giả nên thiền quán khi sử dụng những cảm xúc phiền não, chẳng hạn như tham dục hay thù hận trong tiến trình của con đường tu tập. Để nắm lấy những cảm xúc mạnh mẽ như vậy trong con đường tâm linh thì hành giả không thể tưởng tượng rằng họ có một thân thể hòa bình của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Bổn tôn du già đòi hỏi. Vì trong trường hợp của thù hận, thí dụ thế, thì cần phải thiền quán trên thân thể của chính mình trong một hình thức hung dữ. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện một cách tự động trong một hình thức hung tợn tương ứng để chỉ cho hành giả thiền quán như thế nào. Cũng giống như thế với du già tình dục; các hành giả, những người có thể sử dụng đại lạc phát sinh trong tình cảm liên hệ trong khi nhìn chằm chằm, mĩm cười, nắm tay nhau, hay phối hợp phải biểu hiện với bổn tôn du già tương ứng, họ không thể tưởng tượng chính họ như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, một tu sĩ. Mục tiêu của những hiện tướng khác nhau của Đức Phật Kim Cương Trì không phải làm cho hành giả sợ hãi cũng không phải kích thích tham muốn trong họ, nhưng để chỉ họ thiền quán như thế nào trong những hình thể ấy nhằm để cuối cùng họ chiến thắng những cảm xúc phiền não.

Một Đức Phật có thể xuất hiện một cách tự nhiên mà không cần sự cố gắng trong bất cứ cách nào là thích hợp. hình thể của những hiện tướng này được hình thành qua nhu cầu của những người khác, không phải vì lợi ích của Đức Phật ấy. Từ quan điểm của Phật đà, thì Đức Phật ấy có chân thân tự đầy đủ (Pháp thân), mà các ngài tồn tại mãi mãi.

Hãy nhớ rằng đạo đức Mật tông được xây dựng trên đạo đức của giải thoát cá nhân và trên đạo đức của từ bi. Mục tiêu của Mật tông là để đạt được Quả Phật trên một con đường nhanh hơn nhằm để phục vụ những người khác mau lẹ hơn.

TOÁT YẾU THỰC  HÀNH

Vì sự thực hành Mật tông chính yếu là chuyển hóa vấn đề chúng ta thấy tự thân ta, người khác, môi trường, và các hành vi của ta như thế nào, cho nên có thể hữu ích để quán tưởng tự thân như có một động cơ từ bi, một thân thể và đức hạnh tinh khiết, làm lợi ích cho những người khác. 

-*-
Ẩn Tâm Lộ, Thursday, March 21, 2019


Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

THƯ KÍNH GỬI ĐỨC THẾ TÔN

Thư kính gửi Đức Thế Tôn

Thư kính gửi Đức Thế Tôn


Kính bạch đức Thế Tôn!

Con viết lá thư này gửi đến Ngài với tất cả ưu tư và lòng trắc ẩn nơi tận đáy hồn con. Một lá thư có thể giúp con vơi đi những mệt nhoài thế sự, vì biết rằng con đang được Ngài an ủi, lắng nghe. 

Hạnh phúc thay khi con được là đệ tử Ngài, được sống trong Tăng đoàn Thế Tôn. Chiếc áo con mặc, bát cơm con ăn, chiếc giường con ngủ,  viên thuốc con uống ... tất thảy đều của Đức Thế Tôn. Chúng sinh mười phương đều tôn kính Ngài. Vì con là con của Ngài,  sống trong căn nhà của Ngài, đi trên đường của Ngài nên cũng được thương yêu, nuôi nấng, bảo bọc. Những huynh đệ của con sống trong Tăng đoàn của Ngài cũng được như thế. 

Con đang tiếp xúc với Thế Tôn, con thấy Thế Tôn nơi tăng đoàn nguyên thủy, một tăng đoàn vững chãi với năng lực của từ ái, bao dung. Con nhớ đến hình ảnh một Tăng đoàn với những vị tôn giả trí tuệ và uy đức khôn lường như trưởng lão Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Anan... các vị là những trợ thủ đắc lực của Ngài trên đường hoằng truyền giáo pháp, xây dựng Tăng thân và đạo tràng tu học. Nhưng trong đó cũng có những vị còn rất yếu kém trong sự tu tập như Tu Đề Na đã từ bỏ gia đình sống đời thoát tục nhưng vẫn quay về nhà sống với vợ cũ khiến xã hội đàm  tiếu,  như Đàn Di Ca qua mặt luật pháp đốn cây về xây dựng Thất riêng khiến vua phiền lòng, quần chúng dè bỉu hay như Đề Bà Đạt Đa, nhiều lần chống phá Thế Tôn, chia rẽ Tăng đoàn.

8A2C40A9 1C71 45E0 863D 4FB9BB6F4FCF
Con còn nhớ có lần nội bộ Tăng đoàn xào xáo khiến Ngài phải phiền lòng và vô rừng sống độc cư suốt ba tháng liền không về tịnh  xá. Ngài vô rừng không phải quay lưng với Tăng đoàn mà là tĩnh cư để truyền năng lượng về cho tăng đoàn, giúp hàn gắn những đổ vỡ có thể xảy ra; Ngài dành thời gian để chế tác giới luật mầu nhiệm,  giúp những vị còn khiếm khuyết trong ứng dụng thực tập. 
Con kính trọng và biết ơn các bậc Giải thoát tăng, chư vị là những đệ tử lớn, đệ tử giỏi của Ngài, là những người tiên phong trong thực tập và thành công trong truyền đạo để hàng hậu học chúng con noi theo, hành trì và tiếp nối đúng nghĩa sự nghiệp của Thế Tôn. Con cũng  kính thương và rất biết ơn các vị “nghiệp chướng tăng”, nhờ chư vị mà Thế Tôn đã chế tác giới luật để hàng đệ tử chúng con không vướng phải những sai lầm.
Hai chữ "Tăng đoàn" - làm con xao xuyến! Một đoàn thể sống thanh tịnh,  hòa hợp với những chiếc áo màu nâu đất - màu của nhẫn nại,  bao dung, tha thứ, không kỳ thị, trung kiên và nuôi dưỡng; những chiếc áo vàng - màu của ánh sáng chân lý chiếu soi,  màu của giải thoát, giác ngộ.
Nhưng, Thế Tôn ơi...! Con phải biết giải bày với ai ngoài Ngài khi mà hàng loạt những sự cố trong nội bộ Tăng đoàn liên tục xảy ra qua truyền thông, báo chí. Huynh đệ của con gặp nạn và tai nạn này lại là cớ sự nối tiếp tai nạn kia. 
Pháp mà Ngài dạy cho chúng con là pháp hành. Có những huynh đệ tu tập, hành trì tinh chuyên, đầy đủ giới hạnh và uy đức.  Bên cạnh đó cũng có những huynh đệ không chịu nghiên cứu, học hỏi giáo pháp, yếu kém trong công phu tu tập, không thấu đáo giáo pháp của Thế Tôn, tâm không có một tí chất liệu Phật pháp mà đã vội ra làm Phật sự kết quả dẫn đến là ... ma sự; hậu quả là bị đánh phá, bị vùi dập thay vì được thấu hiểu và thương yêu nhiều hơn. 
Cũng có những vị chịu học, học rất giỏi, kiến thức sâu rộng, khả năng hoạt ngôn tốt nhưng chỉ dừng lại ở hiểu biết, kiến thức mà không vững chãi trên bước hành trì nên dù mang danh hoằng pháp độ sinh nhưng thực chất chỉ là lí thuyết suông, hí luận, diễn trò ngôn ngữ, lội bể văn chương. Đau đớn hơn, những vị này lại lấy những kiến thức hiểu biết Phật pháp như thứ vũ khí sắc bén công kích, đập phá, xỉa xói vào những huynh đệ của mình đang bị nạn do vì chưa hiểu biết thấu đáo Phật pháp - Đánh cho nó chết. 
Có đáng trách không khi mà huynh đệ con đã quá khổ đau rồi. Khổ đau vì những ồn ào từ dư luận, khổ đau vì bị tước đoạt mọi mỹ hiệu của một vị tăng, khổ đau vì không thấy được giáo pháp tự bên trong mình sau những phút giây nhìn lại. Tai nạn đã đến với huynh đệ con. 
Con đau đớn vì có những huynh đệ khác chưa hoặc  không gặp nạn, cũng cố góp phần giải quyết vấn nạn trong khi chưa chánh niệm,  thiếu chất liệu giáo pháp nên vô tình tiếp tục tạo ra tai nạn lớn hơn. Con quặn người khi nghe một ai hỏi "Cùng là con Phật sao không thương quí nhau?". Câu nói quá đổi bình thường nhưng sao đầy chua sót. Nghe xong con đã khóc, con khóc thật nhiều. Con chưa đủ vững chải và điềm tỉnh khi Tăng đoàn bị xúc phạm. Có những vị không phải đệ tử Thế Tôn,  chỉ là có tình cảm với đạo thôi nhưng họ biết đồng cảm, lắng nghe, chia sẻ và dùng tình thương ôm ấp những chiếc áo vàng đang bị nạn. 
Trong khi có những chiếc áo vàng đang đứng trong hàng ngũ Tăng đoàn thì lại lên án nhau, bài trừ nhau thay vì  lắng nghe để thấu hiểu, cảm thông chia sẻ và thương yêu. Đây mới thật sự là điều làm con trăn trở.
Không phải vì một đứa con hư trong một gia đình tốt mà gia đình ấy trở nên xấu xa, đáng bị ghét bỏ. Chính hành động của anh em, họ hàng trong gia đình ấy không đối xử bằng tình thương ngược lại còn mắng mỏ, đánh đập, xỉ vả đứa con hư kia mới làm cho gia đình ấy trở nên xấu xa hơn, tồi tệ hơn. Trong gia đình, đây là gia nạn. Trong Phật pháp, đây chính là pháp nạn. Không một con thú dữ nào có thể giết chết sư tử ngoài những con vi trùng trong thân sư tử.
Con còn nhớ, có lần Sadi Cunda chứng kiến Nigantha Nataputta - giáo chủ một tôn giáo - vừa mới qua đời ở Pava, các đệ tử của vị này đã chia bè, chia phái, tranh chấp, tranh luận và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi, đến nỗi tín đồ của Nigantha Nataputta cũng chán ngấy muốn bỏ đạo.
76FD88C0 98D5 4264 9DCA B086969147F4
Sa di Cunda đã bộc bạch Tôn giả Ananda rồi cả hai cùng đến Thế Tôn, mong được chỉ giáo. 
Đức Phật dạy,  những pháp Ta dạy cho các ông với vô thượng trí như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, không có pháp nào dạy về luận tranh, khẩu tranh, đấu tranh cả mà chỉ nhằm mục đích ứng dụng tu hành. Nếu thực hành tốt sẽ không có bất cứ mâu thuẫn nào xảy ra. Còn những vị nào chỉ dùng giáo pháp để tranh luận hơn thua, đúng sai, phải trái  giữa tăng chúng. Tranh luận ấy sẽ đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, đau khổ cho loài Trời và loài Người.
Kính bạch đức Thế Tôn! 
Không còn bao ngày nữa là chúng con kỷ niệm ngài Thế Tôn ra đời, vậy mà tăng đoàn chúng con đang phải vướng vào tai nạn lớn. Món quà nào sẽ là phẩm vật quý báu nhất mà tăng đoàn con dâng cúng đức Thế Tôn nhân ngày Phật đản? Con biết dù sự đau đớn trong con có lớn thế nào thì người đau nhất vẫn là đức Thế Tôn. 
Chúng con cố tình đã gắn vào môi Thế Tôn những câu chữ mà Ngài chưa bao giờ nói;  Chúng con đã cố tình gắn vào tay Thế Tôn những điều  mà Ngài chưa bao giờ làm; Chúng con đã cố tình nhét vào đầu  Thế Tôn những học thuyết mà Ngài chưa bao giờ nghĩ đến. Chúng con tự dựng lên hình ảnh một đức Phật theo tư duy trần thế rồi vin vào đó, nhân danh Thế Tôn làm những điều phi chánh pháp, phi giới luật. 
Thế Tôn đã dạy về Sáu pháp hòa kính để hàng đệ tử chúng con lấy đó làm nền tảng căn bản, xây dựng nếp sống tăng đoàn hòa kính, hạnh phúc và an lạc, cùng đồng một tâm, cùng hoà một chốn.
DDC775CF E06E 4797 9301 FE6883D33CFC
Con chỉ có một ước nguyện duy nhất rằng Tăng đoàn con hòa hợp, thương kính nhau. 
Kính bạch đức Thế Tôn! 
Dù tai nạn có lớn thế nào thì huynh đệ con cũng đều đáng thương hơn là đáng trách. Huynh đệ con đều muốn xây dựng hơn là đập  phá. Tất cả chỉ vì chưa đủ tuệ giác tỉnh thức để Thế Tôn luôn biểu hiện nơi mỗi huynh đệ mà thôi. Một bộ phận trong cơ thể đang bị tổn thương, nhiệm vụ của con là chữa lành. Tăng đoàn con gặp nạn, hiển nhiên một điều con phải thương yêu. Càng nương tựa Tăng thân, chúng con càng dễ buông bỏ mặc cảm mình là một cái ta riêng lẻ. Con ý thức sáng tỏ nếu thả mình vào Tăng thân, chúng con sẽ thấy rất rõ rằng con mắt, bàn tay, trái tim của Tăng thân lớn hơn bất kỳ một cá nhân nào. Con nguyện không đi vào vết đỗ mà huynh đệ con đã đi mà chỉ nguyện sống tỉnh thức, bao dung. Lấy giới luật làm thầy, lấy từ tâm mà hóa giải, lấy chánh ngữ, ái ngữ để làm chất liệu xây dựng lại công trình dang dỡ từ những đau khổ, nạn tai.
Bình minh chỉ thật sự có mặt khi con nhìn cuộc đời đầy biến động và vô thường với đôi mắt thương, biết nghe những câu chuyện thị phi với tấm lòng rộng mở, không thành kiến, không phán xét và biết nói với nhau những lời ái ngữ, nhẹ nhàng.
Chúng con nhận thức sâu sắc rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập, hành trì đúng lời Đức Thế Tôn dạy, thì Ba Vàng kia chính là Ba ngôi cao quý Phật Pháp Tăng. Ngược lại đó cũng chính là ba độc tham sân si. 
Phật thân, Pháp thân và Tăng thân tương tức cho nên con phải nuôi dưỡng Tăng thân con, cũng là nuôi dưỡng Phật và Pháp thân Thế Tôn mãi trường tồn.
Điều Ngự Tử Trí Chơn 

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

PHỤC HỒI Ý NGHĨA CHỮ VẠN Một Việc Làm Vô Cùng Ý Nghĩa

Một nhà sư Nhật Bản phục hồi ý nghĩa của chữ Vạn
(Un bonze japonais souhaite réhabiliter la signification originale de la swastika)

Hoang Phong chuyển ngữ
            Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji. Chẳng qua là vì những người quốc-xã (nazi) đã biến chữ này thành một biểu tượng cấm kỵ trong các nước Tây phươngngày nay. Thế nhưng chữ Vạn đã ăn sâu vào nền văn hóa của Nhật Bản từ khi Phật giáo mới được đưa vào xứ sở này, và nhà sư Nakagaki muốn nhấn mạnh với người Tây Phương là chữ Vạn với tư cách là một biểu tượnghoà bình cũng đã được sử dụng trong rất nhiều tôn giáo!
image001
H.1: Chữ Vạn trên ngực một pho tượng Phật

            Khi nhà sư Kenjitsu Nakagaki rời Osaka và định cư tại thành phố Seattle trên đất Mỹ năm 1985 thì khi đó ông cũng chỉ hiểu ý nghĩa của chữ Vạn qua từ manji trong tiếng Nhật - gốc tiếng Hán mang ý nghĩa là "sự giàu có". Một hôm trong khi cử hành một nghi lễ Phật giáo, ông có nói đến biểu tượng chữ Vạn, thì tức khắc có một người trong chùa cảnh giác rằng ông "không được làm như thế trong xứ sở này". Từ đó nhà sư Nakagaki đã hiểu được là chữ Vạn lại còn có thêm một ý nghĩakhác nữa, đó là sự hận thù.  

            Gần đây hơn, ông tuyên bố thẳng với giới truyền thông qua tờ Japan Times của thành phố New York như sau: "Sau khi học được bài học trên đây, tôi không dám nói đến biểu tượng này nữa - và đến nay thì cũng đã 25 năm rồi". "Thế nhưng tầm nhìn đó quả là hẹp hòi và thiển cận, không thể nào chấp nhận được, nhất là đối với những người trong số chúng ta từng lớn lên với chữ Vạn qua tín ngưỡng của mình và nền văn hóa của quê hương mình". Thật vậy biểu tượng này rất phổ biến tại Phương Đông, nơi mà Phật giáo Ấn Độ đã được truyền bá, và hơn nữa chữ Vạn cũng là một thuật ngữ tiếng Phạn, mang ý nghĩa là "được mọi điều tốt đẹp" (tiền ngữ su có nghĩa là "tốt đẹp", hậu ngữ asti có nghĩa là "được"/être, to be)

            Hiện nay nhà sư Nakagaki đang cố gắng kêu gọi quần chúng hãy quan tâm nhiều hơn đến từ này trong nền văn hóa Ấn Độ với ý nghĩa nguyên thủy của nó là Hòa Hình. Quyển sách mới đây nhất của ông với tựa đề : "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) là một đóng góp của ông nhằm phục hồi một biểu tượng đã bị cấm kỵ sau một thời gian dài. Trong quyển sách này nhà sư Nakagaki giải thích thật chi tiết nguồn gốc Á Đông của chữ Vạn và nêu lên các trường hợp mà biểu tượng này đã được sử dụng trong nhiều tín ngưỡngnhư Ấn giáo, Phật giáo, đạo Ja-in, Do Thái giáo, Ki-tô giáo và cả Hồi giáo, và cũng đã từ lâu đời, trước khi biểu tượng này bị những người Quốc-xã tước đoạt (biểu tượng "chữ thập có bốn cánh gập lại" mà  sau này người ta gọi là "swastika", là một trong số các biểu tượng xưa nhất của nhân loại. Người ta tìm thấy loại chữ thập này từ Thời đại đồ đá mới/Neolithic, tức là vào thời kỳ khi con người mới bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt. Vì thế cũng có thể xem chữ Vạn là một biểu tượng "toàn cầu". Sở dĩ biểu tượng này đã xuất hiện rất sớm và phổ biếnrộng rãi trong nền văn minh nhân loại có thể là do tính cách đơn giản và dễ ghi khắc của nó. Di tích lâu đời nhất của biểu tượng này được tìm thấy tại xứ Ukraine , xưa khoảng 10.000 năm - ghi chú của người chuyển ngữtiếng Việt).

            Chữ Vạn được biểu trưng bằng nhiều cách: một số có thêm bốn dấu chấm, một số khác dưới dạng một cơn lốc xoáy tròn, hoặc các biến thể khác. Đối với Phật giáo chữ Vạn nằm thẳng, bốn cánh quay về phía trái, trong khi Chữ-thập-ngoặc của Đức-quốc-xã thì nằm nghiêng 45° và bốn cánh thì quay về phía phải. Biểu tượng chữ Vạn rất phổ biến tại Nhật, và thường được dùng để chỉ định vị trí chùa chiền trên các bản đồ địa lý từ triều đại Meiji (1868-1912).
            Trong những năm gần đây đã từng có nhiều cuộc tranh luận về chữ Vạn, nhất là từ khi công ty Google "vô tình" đã dùng dấu hiệu chữ Vạn này chỉ định vị trí các chùa chiền Phật giáo trên những bản đồ do công ty phác họa! Thế nhưng chính công ty Google sau đó cũng đã phải tuyên bố với tổ hợp báo chí HuffPost rằng biểu tượng này dù đúng là "của tín ngưỡng Phật giáo", thế nhưng công ty cũng sẽ tìm cách … giải quyết khó khăn này! Năm 2015, một sinh viên Do Thái bị đuổi khỏi đại học George Washington sau khi cài lên bảng thông cáo của trường biểu tượng chữ Vạn mà anh ta đã mua tại Ấn Độ. Năm 2017, công ty may mặc Âu-châu DA Designs cho in biểu tượng chữ Vạn trên các chiếc áo thun (tee shirt) với chủ đích "quảng bá" ý nghĩa hoà bình và tình thương yêu của biểu tượng này. Thế nhưng sáng kiến này đã bị Quốc hội Do Thái và Bảo tàng viện tưởng niệm nhà giam Auschwitz (lò thiêu người của Đức-quốc-xã)chỉ trích nặng nề.

            Quyển sách của nhà sư Nakagaki trên đây cho thấy một sự cố gắng liên tục của ông trong việc làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ Vạn, sau khi ông đệ trình luận án về vấn đề này tại Chủng viện Thần học New York năm 2012. Luận án này sau đó đã được xuất bản tại Nhật năm 2013. Thế nhưng các nhà xuất bản Mỹ thì lại quá dè dặt không dám in. Nhà sư Nakagaki bèn tự mình xuất bản qua công ty Amazon năm 2017. Mãi đến mùa thuvừa qua nhà xuất bản Stone Bridge Press mới xuất bản quyển sách này tại Mỹ. 

image002
Hình bìa quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" của nhà sưKenjitsu Nakagaki.
image004
Nhà sư Kenjitsu Nakagaki đang giới thiệu quyển sách "Chữ Vạn trong Phật giáo và Chữ-thập-ngoặc của Hitler - Hãy cứu vãn một biểu tượng Hòa Bình thoát khỏi sức mạnh của hận thù" (The Buddhist Swastika and Hitler's Cross: Rescuing a Symbol of Peace from the Forces of Hate) với vị giáo sĩ (rabbi)Do-thái giáo Alan Brill, chủ tịch ủy ban nghiên cứuDo-thái giáo và Ky-tô giáo tại đại học Seton Hall tại thành phố New Jersey, tháng 11 năm 2018.

Nguồn: Lion'Roar, bài viết của Haleigh Atwơd  (09.01.2019)
Có thể xem tin này trên trang mạng: Buddhistdoor, bài viết  của Raymond Lam (19.12.2018)
Có thể xem bản gốc tiếng Pháp trên trang mạng của Viện nghiên cứu Phật học của Pháp (Institut d'Études Bouddhiques/IEB) (16.01.2019) :
https://bouddhismes.net/index.php?option=com_content&view=article&id=182:un-bonze-japonais-souhaite-rehabiliter-la-signification-originale-de-la-swastika&catid=12&Itemid=128-
Hình ảnh:  Davidlohr Bueso ; japantimes.co.jp

                                                                                                 Bures-Sur-Yvette, 14.02 19
                                                                                                  Hoang Phong chuyển ngữ
 PHỤC